NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao

Một Thuở Kaki

 

Những Giáng Sinh trong trại tù Cộng sản

Trần Việt Yên




1. Giáng Sinh năm 1976 ở trại Long Giao
Năm 1976 tôi bị giam trong trại 11 Liên trại 3 Long Giao, Long Khánh. Vì mấy tháng trước xảy ra chuyện trốn trại bất thành, bị bắn đổ ruột mà không chết của anh Hà Văn Hùng và một vài anh em khác, đang bị cùm trong conex, nên không khí trong trại ngột ngạt, nặng nề, khó thở. Anh em chúng tôi ngoài giờ đi lao động vác gỗ, vác tre về làm hội trường nhà ở cho đám cán bộ và củi cho nhà bếp còn phải khiêng phân trồng rau trồng sắn.
Ở đội 1 (Đội có anh Hùng) ai nấy đều dè dặt lời ăn tiếng nói, các tên cán bộ quản giáo hay cán bộ đội cũng thay đổi thái độ không còn hay lai vãng xuống các đội dò xét chúng tôi mà có gì chỉ liên lạc với các đội trưởng, trong đó đội trưỏng đội 1 chúng tôi là anh Lâm Võ Hoàng (sau này là cố vấn kinh tế ngân hàng cho Võ Văn Kiệt) ra ngoài khu cơ quan làm việc.
Riêng những anh hay ăn nói bốp chát với cán bộ như anh Phạm Lai, anh Dương Hùng Cường dường như cũng “sì tốp” bớt sau mấy lần anh Dương Hùng Cường bị điệu ra ngoài cơ quan làm việc trở về với dáng phờ phạc, đăm chiêu.
Tôi nhớ lại đêm Giáng Sinh năm đó, tôi buông mùng đi ngủ sớm hơn thương lệ, ngồi trong mùng tôi thầm đọc kinh cầu nguyện cho khỏi ai thấy, vừa đọc kinh tôi vừa nhớ lại những mùa Giáng Sinh trước, những kỷ nệm êm đềm đầm ấm thủa nào, nước mắt tôi âm thầm rơi xuống gò má hốc hác trơ xương.
Tôi thiếp đi lúc nào không hay chợt có bàn tay ai đó kéo chân tôi làm tôi choàng tỉnh, vén mùng nhìn ra tôi lờ mờ thấy khuôn mặt của tên quản giáo Cảnh, đứng đàng sau lố nhố là mấy tên vệ binh súng AK lưỡi lê tuốt trần. Tên cán bộ ra hiệu cho tôi đi ra ngoài, tôi lẳng lặng đi theo hắn ra đến ngoài sân tập họp, ở đó tôi đã thấy có tốp người lặng lẽ ngồi chờ. Trời Long Giao se lạnh, tôi chỉ mặc có một cái áo tù mỏng, tôi thầm trách sao không cầm theo cái áo Jacket để giờ đây ngồi chịu lạnh.
Cũng nói qua về cái trại giam Long Giao đó, nó mang số 11 nghĩa là trước nó đã có 10 cái trại và sau nó thì không rõ còn bao nhiêu cái nữa. Trại nguyên là trại gia binh của Trung Đoàn 52 Sư Đoàn 18 Bộ Binh, nó gồm nhiều dãy, mỗi dẫy 10 căn nhà, chúng tôi bị giam cứ 1 căn nhốt 7 hay 8 người, 2 căn thành một tổ 15 người, hai dãy nhà thành một đội. Trại 11 gồm 8 đội và nhốt khoảng 1200 người tù cải tạo.
Lần lượt tên quản giáo dẫn ra thêm mấy tốp khác, chúng tôi hoang mang ngồi trong bóng tối, nên không biết là ai, nhưng có tiếng húng hắng ho làm tôi biết có anh Phạm Lai, rồi có tiếng khò khè của anh Hoàng Bửu. Tên quản giáo quơ đèn pin ra hiệu cho chúng tôi đứng lên đi theo hắn. Chúng tôi lần lượt xếp hàng đôi đi về phía cổng trại giam như những bóng ma. Ra đến cổng, tôi thấy thêm một tốp vệ binh nữa cũng trang bị súng AK với lưỡi lê tuốt trần nhọn hoắt. Tên quản giáo chiếu đèn pin ra hiệu cho từng cặp ra, tôi và Vang bước ra nhập vào đám đông đang đứng chờ rồi tiếp tục đi về phía hội trường. Ở đó giữa ánh sáng vàng vọt của mấy ngọn đèn dầu, tên thiếu tá trại trưởng nét mặt ra vẻ nghiêm trọng đang đợi chúng tôi trên bục giảng. Chúng tôi lặng lẽ ngồi xuống nền đất đỏ của hội trường. Tên trại trưởng đằng hắng rồi cất cao giọng, hắn giảng thuyết theo bài bản mà chúng tôi vẫn phải nghe mỗi khi lên lớp, đều là ca tụng đảng CS, ca tụng bác Hồ của hắn, ca tụng phe xã hội chủ nghĩa của hắn. Nhìn nét mặt say sưa của hắn tôi tin rằng hắn đang thành thật sùng tín vào những điều hắn nói. Hôm nay đặc biệt hắn lại nói về tôn giáo, hắn kết án các tôn giáo ở miền Nam, cho rằng các tôn giáo làm cản trở bước tiến giải phóng miền Nam. Sau một hồi kết án chán chê, hắn ra lệnh cho chúng tôi về trại, lần này hắn không hỏi và bắt chúng tôi hô lớn: “Thưa cán bộ, hiểu!” như thông lệ hắn vẫn làm từ trước đến nay.
Chúng tôi lại lục tục kéo nhau về trại giam. Trước khi bước chân vào buồng, tôi, Vang và Hoàng Bửu bị hắn chặn lại thì thầm vào tai: “Tôi nói cho các anh biết các anh có bỏ đạo thì mới được về!”, rồi hắn dặn: “Không được nói cho ai biết chuyện đêm nay đấy nhé”.
Tôi leo lên sạp thì nghe tiếng gà eo óc gáy từ xóm nhà dân ở Cẩm Đường văng vẳng vọng lại. Tôi thiếp đi cho đến sáng.
Ngày 25 Giáng Sinh chúng tôi vẫn tiếp tục lao động như thường lệ, nhìn ánh mắt nhau, chúng tôi thầm hiểu đêm qua CS tập trung anh em sĩ quan Công Giáo, Tin Lành lại vì chúng không muốn cho chúng tôi có dịp tập họp ca hát và đón mừng Chúa như mùa Giáng Sinh 75 đầu tiên trong trại tù ở Phú Lợi, Bình Dương. Chúng tôi biết chúng muốn đe dọa và dụ dỗ để phá hoại niềm tin vào Thiên Chúa của anh em chúng tôi. Nhưng chúng đã lầm, càng gian nan chúng tôi càng cảm thấy cần có Chúa hơn.

2. Giáng sinh 1977 ở trại Hồng Ca Yên Bái Hoàng Liên Sơn

Tháng 7 năm 1977 chúng tôi bị chuyển ra tù ngoài Bắc bằng mấy chuyến tàu sông hương trong những chuyến đi kinh hoàng. Đầu tiên chúng đưa chúng tôi về trại Lao Cai ít hôm rồi chuyển tiếp về trại Khe Thắm, huyện Trấn Yên do bộ đội CS kiểm soát được mấy tháng, lại chuyển chúng tôi về trại Hồng Ca, Yên Bái, Hoàng Liên Sơn do Công An CS quản lý.
Chúng tôi như cá chậu chim lồng vì lúc ở trại do bộ đội quản lý dù sao chúng tôi còn được hít thở không khí có đôi chút tự do, hàng ngày chúng tôi lên rừng chặt giang chặt nứa cả ngày miễn sao đủ chỉ tiêu một người bốn bó giang mỗi bó 5 cây giang dài 4 mét hay 2 bó giang nứa mỗi bó 30 cây cũng dài 4 mét là được, thời giờ còn lại chúng tôi đi câu cá, câu cua hay hái măng giang bắp chuối rừng về ăn cho đỡ đói.
Ở trại Hồng Ca, chúng tôi bị bó buộc lao động trong 4 bức rào nứa của vòng ngoài trại giam. Ở đó ngoài đội trồng sắn, chúng tôi được lãnh đi làm tập thể rẫy cỏ sắn chờ thu hoạch ở mấy ngọn đồi quanh trại. Bắt đầu từ ngày 18 /12 chúng tôi thu hoạch sắn, mỗi người theo chỉ tiêu nhổ 60 gốc sắn, dùng cuốc hay dao cắt rồi gom củ sắn lại thành đống để nhóm Tự Giác đánh xe trâu ra chở về trại luộc lên phát cho trại viên mỗi người 2 hay 3 củ một ngày để thay cơm hay bánh bột mì hấp vừa dai vừa đen sì và nồng nặc mùi dán.
Chiều ngày 23 đi lao động về, lãnh phần ăn thay vì mấy củ khoai mì gầy guộc, chúng tôi nhận cứ 8 người được một xoong cháo nấu bằng sắn bào, lõng bõng mấy tép hành khô và đám láng mỡ lều bều, nhà bếp giải thích là vì sắn phải đem ra ty lương thực huyện kiểm thu, xong rồi mới phát lại cho trại nên hiện trại không còn lương thực gì kể cả sắn thu hoạch, chúng tôi lặng lẽ húp chén cháo sắn lõng bõng rồi đi ngủ cho quên cái đói ồn ột sôi trong bụng.
Qua ngày hôm sau cũng thế. tình trạng kéo dài đến 25, nhiều anh em trong đội sắn chúng tôi đói quá hoá liều lén nhai cả sắn sống bị say, nôn ói ra mật xanh mật vàng. Trưa ngày 27, nhiều anh em lả đi nằm thiếp trong sàn cáo bịnh nhưng lịnh của tên trại trưởng thông báo chúng tôi phải tập trung lên hội trường. Chúng tôi dắt díu nhau lên hội trường trong khi đám cán bộ trại nhìn những bước chân xiêu vẹo của chúng tôi ra vẻ thích thú chúng, huých vai nhau và cười hô hố.
Tên đại úy trại trường tự giới thiệu là Trần Văn Sơn, hắn nhăn nhở đứng trên bục giảng đảo mắt qua chúng tôi một lượt rồi cho lệnh chúng tôi ngồi xuống. Hắn bắt đầu cất cao bài giảng thuyết mà chúng tôi rất quen thuộc vì ở trại nào từ quân đội cho đến công an đề lớp lang như nhau, không khác một giọng lên bổng hay xuống trầm. Kết thúc bài giảng hắn hỏi chúng tôi giọng ân cần giả nhân giả nghĩa:
- Các anh có đói không? Ừ tôi biết các anh đói mấy ngày nay, vì trại phải nộp thu hoạch cho huyện.
Đột nhiên hắn cất cao giong như thét lên:
- Các anh tin có Chúa của các anh, sao các anh không cầu Chúa của các anh cho các anh ăn no, các anh cứ cầu đi, biết đâu ông Giêsu của các anh chẳng ban ngay cho các anh mỗi người cái bánh tây to tổ bố như thế này này?.
Cừa nói hắn vừa phùng mang trợn mắt vung hai tay lên thành vòng tròn. Rồi hắn chỉ tay vào ngực giọng chì chiết:
- Đó các anh cứ cầu xin đi! Nhưng mà tôi nói cho các anh biết chỉ có thằng cộng sản này là cho các anh được no mà thôi. Các anh cử thử xin mà xem thằng cộng sản này có cho các anh no nê không nào?
Nói đến đây hắn có vẻ thỏa mãn, hả hê lắm rồi như khoe:
- Các anh về trại đi, xem hôm nay có được no không nào?
Chúng tôi về đến trại, quả thật chiều hôm đó mỗi người chúng tôi lãnh một nón cối đầy khoai mì luộc còn bốc khói. Tôi nhai mà niềm uất hận cứ trào dâng lên làm tôi nghẹn không thể ăn được hơn hai củ khoai bằng cườm tay trẻ con, dù bụng tôi đói cồn đói cào.

3. Giáng Sinh 1979 trại Tân Lập Vĩnh Phú

Đầu năm 1978 chúng tôi bị chuyển đến trại Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, vì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Hoa. Trên báo Nhân Dân mà chúng bắt chúng tôi phải nghe, lác đác đã có các bài chửi Trung Quốc. Một lần có tên vệ binh hỏi chúng tôi nếu có yêu cầu đánh nhau với Tàu các anh có đi đánh không, tôi trả lời tôi tuy là lính nhưng chỉ biết cầm sơn, cầm cọ, cầm viết chứ không biết cầm súng, nhất là súng AK. Hắn nhìn tôi lúc lâu rồi đỏ mặt quay đi.
Trại Tân Lập là một trại rất lớn đã có từ lâu đời. Trên những ngôi mộ tù thỉnh thoảng chúng tôi lượm được những thanh gỗ mục có viết tên những tù nhân bị chết ở đây có mảnh để chết từ năm 1954, 55. Trại Tân Lập chia ra làm 5 phân trại. Phân trại 2 của chúng tôi nằm tận trong cùng của dòng suối Ngọc quanh co chảy ra đến gần Ấm Thượng. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là trồng rau xanh, cung cấp cho toàn trại, đồng thời còn trồng sắn trên những ngọn đồi trọc cách trại gần 2 cây số.
Từ các trại tù gần biên giới Việt Hoa chúng tôi bị đưa về tập trung ở 2 trại của tỉnh Vĩnh Phú là Hồng Quang và Tân Lập. Phân trại K2 chúng tôi gồm toàn các anh em trẻ từ trại Hồng Ca chuyển đến đợt đầu, rồi đến nhiều đợt kế tiếp gồm toàn các sĩ quan từ cấp trung tá trở xuống.
Ngày nọ trại K2 tiếp nhận thêm một đợt gồm toàn các vị linh mục, mục sư, đại đức trước đây là tuyên úy trong quân đội đã giải ngũ hay còn đương nhiệm. Các cha, thầy bị tập trung vào một đội mà bọn vệ binh chúng thường gọi lóng với nhau là đội “đạo binh hương khói”. Công việc của đội tuyên úy là chăn gà chăn lợn trong vòng rào thứ 2 của trại. Một số khác tăng cường cho đội nhà bếp trong đó có cha già Bỉnh.
Giáng Sinh năm 1978, nhờ có các cha mà chúng tôi được xưng tội rước lễ và dâng lễ Giáng Sinh dù phải khéo léo âm thầm để che mắt bọn vệ binh, quản giáo. Đêm Giáng Sinh năm đó chúng tôi hướng về buồng giam các tuyên úy để cùng thầm dâng lễ nửa đêm dù chúng tôi phải nằm trong mùng và trùm chăn kín mít vì lạnh.
Cuộc đời khổ sai của chúng tôi cứ thế trôi dần cho đến cuối năm 1979 thì xảy ra một biến cố lớn. Số là trong trại bỗng từ đâu có tin đồn loan truyền rằng chúng tôi sắp được thả hay được đi qua Mỹ. Dù không tin tưởng lắm nhưng lòng tôi cũng háo hức. Bạn bè hỏi, tôi chỉ cười: Tao an tâm cải tạo chờ đón thế kỷ 21 - không biết sao lời nói của tôi đến tai tên quản giáo, hắn bắt tôi tra vấn và làm kiểm điểm.
Rồi mùa Giáng Sinh cũng đến. Sáng ngày 24, như thường lệ chúng tôi tập trung trước sân trại chờ gọi tên từng đội báo cáo con số tù xuất trại đi lao động. Lần lượt các đội đều được gọi tên, cuối cùng chỉ còn đội Tuyên Úy là sót không được gọi.
Khi tất cả cải tạo vừa ra khỏi trại là lúc mấy chục tên công an vũ trang ùa vào trại. Chúng xông đến đội tuyên úy còn đang ngơ ngác rồi vây chặt họ lại, tên cán bộ trực trại đọc lệnh khám tư trang. Thế là các tuyên úy được áp giải về buồng giam. Mọi người thu xếp tư trang rồi khệ nệ cõng, khiêng ra trước sân lán và cuộc khám tư trang quen thuộc với chúng tôi lại diễn ra. Có khác chăng, lần này đám công an vũ trang khám xét kỹ lưỡng tỉ mỉ từ đường khâu mối vá trên áo trên quần các vị tuyên úy.
Một tốp công an khác vào trong buồng khám xét, săm soi mọi chỗ nằm từ gầm sạp cho đến kẽ lá trên mái nhà ngay đầu nằm các cha các thầy. Chúng lôi ra đủ thứ trong đó nào là mấy cái ống bương đựng nước đến những thánh giá làm bằng gỗ củi, có vài miếng tôn nhỏ bằng ngón tay mà các cha các thầy dùng để cắt miếng bánh mì hấp vừa khô vừa cứng. Chúng đem những thứ đó ra và hỏi lớn xem của ai, có thứ thì có người đứng ra nhận có thứ thì không, mỗi khi có người nhận món gì tên quản giáo đều ghi tên vào cuốn vở học trò bằng giấy giang hắn kè kè mang theo rồi quăng món đó vào cái thùng xe cải tiến. Còn món nào không có người nhận, chúng tập trung tất cả và đưa cho tên quản giáo.
Tên quản giáo đội dẫn các cha. các thầy trở vào buồng, cho để đồ lên sạp theo sự chỉ định của hắn xong rồi bắt các cha các thầy tập trung ngồi khít hai bên đầu dãy sạp và bắt đầu kiểm điểm, hắn lôi ra từng thứ và hỏi lại món này của ai. Mỗi lần có người nhận hắn lại chăm chú ghi chép vào cuốn sổ. Phần đông các cây thánh giá thì có các cha, các mục sư nhận, hắn ghi vào sổ nhưng không giao lai cho khổ chủ. Cuối cùng chỉ còn mấy miếng sắt bằng ngón tay dùng để cắt bánh mì hấp là không có ai nhận, vì thực ra có ai biết rõ cái nào là của mình đâu, trong trại tù đổi chỗ nằm xảy ra xoành xọach, có khi người này làm để quên ở chỗ nằm khi di chuyển lâu dần quên, người khác đến nằm tìm được cứ thế dùng rồi lại giấu đi, nên nào biết của ai đâu.
Tên quản giáo hỏi gằn mấy lần vẫn không có ai nhận, hắn bực dọc đứng lên:
- Các anh vẫn còn ngoan cố bao che cho nhau chẳng anh nào thật thà khai báo, cứ quanh co giấu tôi thì bao giờ mới tiến bộ mà về?!. Các anh dùng cái này làm gì có phải đây là thứ vũ khí sắc nhọn không?! Các anh định tái vũ trang đấy à? Này tôi bảo cho mà biết đừng có mà bẻ nạng chống trời là không được với tôi đâu! Tôi yêu cầu anh Tùng (Đại Đức NX Tùng Đội trưởng) phải kiểm điểm hết đêm nay tìm cho ra đến bao giờ xong mới cho đội nghỉ.
Nói xong hắn ngoe ngoảy đi ra cửa buồng. Thế là cả đội cứ ngồi im lặng kiểm điểm từ giờ này cho đến giờ kia. Đến giờ đóng cửa buồng mà các vị vẫn chưa được tha tội cứ ngồi chịu trận mà chẳng được ăn gì từ sáng cho đến tối. Đến khoảng gần 10 giờ tên quản giáo trở lại và hỏi:
- Chưa xong à?, thôi mai cho các anh kiểm điểm tiếp!
Các cha các thầy đều lặng lẽ ra chia phần ăn là mấy lát rau muống luộc với một chén sắn rồi âm thầm ăn uống trong lạnh lẽo của một đêm Giáng Sinh. Các vị ăn xong ai nấy về chỗ nằm mới, đến gần khoảng nửa đêm bỗng có tiếng một vị đại đức lên tiếng:
- Đêm nay là đêm Giáng Sinh, mình nên làm gì để ghi nhớ ngày Thiên Chúa giáng trần đi chứ.
Chẳng thấy ai hưởng ứng vì ai cũng đã quá mệt mỏi. Một lát sau vị đại đức lại đề nghị:
- Hay chúng ta hát vài bài ca để kỷ niệm Giáng Sinh?
- Nhưng có được hát nhạc đạo đâu nào,- có tiếng ai đó đáp lại.
- Thì mình hát nhạc cách mạng cũng được chớ sao miễn là miệng mình hát nhưng lòng mình tưởng nhớ đến Chúa cũng được chớ gì.
Cuối cùng, sau một hồi thì thào bàn tán, mọi người đồng ý hát nhạc cách mạng trong đêm Noel.
Cha Thanh Châu là vị tuyên úy của vùng 4 chiến thuật xung phong đứng ra bắt nhịp cho các vị cùng hát. Tiếng hát ban đầu còn nhỏ sau to dần to dần mọi người say sưa hát như quên hết nỗi căng thẳng trong ngày! Những bài hát CS trong một đêm Giáng Sinh vang lên trong trại tù!
Đang say sưa ca hát bỗng cửa buồng xịch mở: 5, 6 tên công an vũ trang súng AK lăm lăm trong tay xông vào, đi sau là tên thượng sĩ Quang, cán bộ giáo dục trại, hắn hách dịch hỏi:
- Tại sao các anh không ngủ mà còn ca hát ồn ào?
- Thưa cán bộ chúng tôi chưa ngủ được vì cả ngày kiểm điểm căng thẳng quá, chúng tôi muốn ca hát đôi chút cho khuây khỏa.
- Ai là ca trưởng?
- Thưa cán bộ không có ai là ca trưởng, chỉ có tôi cầm càng bắt nhịp cho anh em hát.
- Ai cho phép anh xuyên tạc nhạc cách mạng?
- Thưa cán bộ chúng tôi hát nhạc cách mạng chứ có phạm gì đâu?
- Không lôi thôi gì cả anh theo tôi đi ra ngoài, các anh khác ngủ đi lấy sức mai lao động, còn hát nữa là tôi cùm đấy.
Nói xong hắn dẫn Cha Châu ra khỏi phòng trong bóng đêm dày đặc, mọi người lặng lẽ nằm xuống ngủ vùi.
Sáng hôm sau trước giờ chúng tôi đi lao động, tên “cán bộ trực trại” điệu Cha Châu ra trước sân tập họp rồi hắn đọc lệnh biệt giam cha 14 ngày vì tội “Hát xuyên tạc nhạc cách mạng”.
Ai nấy đều thắc mắc cho đến ngày cha được tháo cùm thả về đội, mọi người mới vỡ lẽ vì các vị hát bài “Bác đang cùng chúng cháu hành quân” trong đó có câu: “Nếu còn bóng quân xâm lược thì QUÉT sạch nó đi!”
Tên cán bộ giải thích:
- Các anh hát ra là: Nếu còn bóng quân xâm lược thì GIẾT sạch nó đi. Bác Hồ có nói thế bao giờ?! Rõ ràng là các anh xuyên tạc lời bác, tưởng chúng tôi không biết hả?
Thật ra đó chỉ là cái cớ để chúng dẹp các cuộc tụ họp dưới mọi hình thức trong đêm Noel mà thôi. Bằng chứng là trong các đội khác, thỉnh thoảng vẫn có người hát là “Giết sạch nó đi” mà có sao đâu?
Tất cả những sự kiện trong bài đều là có thực, chúng tôi chỉ xin sửa đổi tên họ của vài anh em còn kẹt tại quê nhà, vì không muốn công an lại đến hành hạ các anh thêm.
Trần Việt Yên



--------------------

Nguyễn Văn Ba



Long không ngờ có ngày gặp lại cha Thiện ở miền thượng du cực Bắc đèo heo hút gió nầy. Nơi đây là chỗ giam giữ, đọa đày đám tù cải tạo gồm các thành phần dân sự và quân sự cao cấp của chế độ cũ, những quân nhân từ cấp bậc đại úy tới đại tá, những nhân viên dân chính từng là phó quận trưởng, phó tỉnh trưởng, giám đốc nha sợ, nghĩa là những người bị chế độ mới xếp vào loại nguy hiểm.
Cha Thiện bị xếp vào loại còn nguy hiểm hơn các thành phần trên một bực. Một tuần lễ trước ngày cha được chuyển đến trại, đám tù đã được nghe các quản giáo bàn luận rằng trong đợt tù sắp chuyển đến, có một tội nhân cực kỳ phản động, dám đề cao "Chúa ở trên bác Hồ" và hơn thế nữa dám "âm mưu chống phá cách mạng bằng vũ lực".
Chiếc molotova bít bùng thả đoàn tù mới xuống sân trại. Long và những tù nhân cũ thấy người tù nguy hiểm nhất đi giữa đoàn, tay bị trói quặp ra sau, hai vệ binh kèm hai bên hông, áp tải thẳng vào văn phòng ban quản trại và sau đó bị đưa vào nơi biệt giam, khu vực đặc biệt dùng giam giữ tù nhân phạm kỷ luật trại như lén lút liên lạc với gia đình, thân nhân, với dân chúng trong vùng, phát biểu linh tinh, viết nhật ký, hồi ký. Cha Thiện là tù mới đến, chưa phạm kỷ luật trại này. Biệt giam cha Thiện như là một đòn cân não, một cú đánh phủ đầu, dằn mặt. Đám tù lo sợ vì những người bị biệt giam ít khi được mạnh lành lúc trở về, hoặc vĩnh viễn không trở về nữa.
Sáu giờ chiều, bầu trời xám xịt, gió bấc rít từng cơn, lùa qua các khe hở của trại tù phát ra tiếng kêu hú hú như tiếng tru của một bầy chó sói đang đói mồi. Trời mới sang Thu nhưng cái lạnh đã vây phủ khắp núi rừng. Lạnh quá, không ai bảo ai, tất cả tù cải tạo đều tụ tập trong những phòng giam kín cửa. Những cái mùng được giăng lên, sinh hoạt cá nhân bắt đầu, người nằm vắt tay qua trán suy nghĩ chuyện gần chuyện xa, kẻ chui vào mùng lén cầu kinh, niệm Phật, hoặc khóc thầm, thương thân, tủi phận, nhớ vợ con... một mình để đừng ai trông thấy.
Cửa phòng giam bỗng mở toang, gió đột ngột ùa vào mang theo cái lạnh như cắt da, như xé ruột, làm đám tù bàng hoàng, ngơ ngác. Hai vệ binh đẩy vô phòng giam một thây người lạnh cóng, quần áo tả tơi, đầu tóc rối bù. Rồi cửa phòng giam đóng mạnh lại, sau đó có tiếng xiềng xích kêu leng keng và tiếng khoá trái từ bên ngoài. Đám tù bu lại, người biết chuyện kêu lên:
- Cha Thiện!
- Người tù nguy hiểm nhất trại!
- Ổng còn thở anh em ơi!
Đám tù thay phiên nhau, kẻ mặc quần áo ấm, nấu nước nóng, người xức dầu cù là, xoa bóp chân tay.... Sau khoảng một giờ đồng hồ, tình trạng sức khỏe của cha Thiện có vẻ khả quan hơn, hơi thở đã đều hòa. Đám tù mừng rỡ, nhà biệt giam lần nầy đã không cướp đi người bạn tù của họ như những lần trước đây.
Nhìn Cha Thiện ốm nhom, khuôn mặt xương xẩu, vầng trán hói, mái tóc bạc hoa râm trong lớp áo quần tươm tất hơn, Long thấy quen quen, có cảm tưởng như đã gặp Cha ở một nơi nào đó trong quá khứ.
Phải mười ngày sau Cha Thiện mới đi đứng được dù còn yếu và nhiều khó khăn. Nhưng quản giáo không để yên cho Cha có thời gian bình phục hoàn toàn. Ngày thứ mười một, chúng lại tiếp tục đày ải, bắt cha lao động như những tù nhân khác, công việc lại có phần nặng nhọc, dơ bẩn hơn. Cha Thiện được giao nhiệm vụ gánh những thùng phân tươi từ dãy nhà cầu công cộng ra đám rẫy rau muống cải thiện dưới chân đồi, rồi trải phân ra trên từng luống rau. Màu phân tươi vàng hực, lỏng bỏng nước, thật nặng mùi cùng với đám ruồi xanh bay dấp dới, nhung nhúc những con dòi, những chú lãi đũa, lãi kim, ngọ nguậy không ngớt là hình ảnh khó quên đối với người tù đã một lần làm công việc không vệ sinh này.
Long nhìn Cha Thiện ướt át dưới mưa phùn, trong gió bấc lạnh lẽo mà lòng ái ngại. Đoạn thơ của Phùng Quán thời Nhân Văn Giai Phẩm hiện ra một cách sống động:
"...Tôi đi giữa Hà Nội
Giữa Hà Nội những đêm mưa lất phất
Đường mùa Đông nước nhọn tựa dao găm
Chị em công nhân đổ thùng
Yếm rách chân trần
Quần xắn quá gối
Run lẩy bẩy chui vào hầm xí tối
Vác những thùng phân
Ta thuê một vạn một thùng
Có người không dám vác
Các chị suốt đêm quần quật
Sáng ngày vừa đủ nuôi con
Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn"
.
Long thấy hoàn cảnh người nữ công nhân đổ thùng và Cha Thiện giống nhau quá, giống từ cách ăn mặc, động tác tới công việc làm, có khác nhau là chỗ giữa hai thời điểm trong xã hội cộng sản Việt Nam, người bị ép buộc còn người thì vì miếng ăn, sự sống của gia đình mà phải làm cái công việc chẳng ai muốn làm cả.
Long ước mình là thi sĩ, để có thể diễn đạt nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần của Cha Thiện. Long muốn chia phần gánh vác sự nặng nhọc vì chàng không nghĩ rằng tấm thân gầy nhom của cha có thể cáng đáng nổi hai thùng phân lỏng với cái đòn gánh nặng hơn ba chục kílô trên đoạn đường lầy lội. Nhưng thật lạ lùng, Cha Thiện vẫn hoàn tất công việc, Cha đi không nhanh nhưng tới đích, có khi trợt, ngã nhưng lại đứng dậy một cách bình thản, như thách đố với bọn quản giáo, vệ binh.
May cho Cha là tù không có nhiều phân để cha phải gánh mỗi ngày; bữa không có phân cha lãnh phần tưới nước, hái rau cho toàn trại. Phần bọn quản giáo biết đày đọa Cha Thiện đến vậy là đã "đạt chỉ tiêu", không tiến thêm bước nữa, nhưng chúng âm thầm cho người theo dõi, kiểm soát gắt gao mọi hành động, ngôn ngữ của Cha.
Cha Thiện như biết rõ mọi việc liên quan đến cuộc sống của người tù dưới chế độ mới, bởi Cha đã trải qua nhiều trại cải tạo trên khắp ba miền Nam-Trung-Bắc. Cha làm việc trong im lặng, chỉ nói khi cần phải nói và ít khi nói về mình nên không mấy người, ngay cả bạn tù, biết lý lịch cùng những việc cha đang nghĩ, đang toan tính. Cẩn thận vậy mà quản giáo còn biết được Cha Thiện lén đọc kinh trong mùng mỗi buổi tối trước giờ ngủ, chúng đến tận phòng giam cảnh cáo Cha.
Một hôm trên đám rẫy rau muống chỉ có một mình Cha Thiện, nhắm chừng tên vệ binh đứng gần nhất cách khoảng nửa cây số, Long hỏi Cha:
- Con nhớ không lầm thì đã gặp Cha khoảng hơn mười năm trước ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh.
Mặt Cha Thiện đổi sắc, Cha lắp bắp:
- Lạy Chúa tôi!
Long tiếp tục:
- Hồi đó Cha là Cha tuyên úy của đơn vị. Con mới thuyên chuyển về, nhân dịp lễ Phật Đản, Cha tới dự lễ cùng thầy Đại Đức tuyên úy Thích Thanh Nhàn và Mục sư Tin Lành Nguyễn Tấn Tới. Sau lễ Phật Đản, Cha đổi sang đơn vị khác và cha Hưng đến thay.
- Lạy Chúa tôi! Bọn cộng sản mà biết thêm tôi từng là tuyên úy thì chúng chẳng để cái mạng già được toàn thây.
- Tội nghiệp Cha Hưng, Cha đỡ đầu của con, đã bị Việt Cộng giựt mìn mà chết.
Mắt cha Thiện chợt ngời sáng:
- Vậy ra con là một con chiên ngoan đạo, một lòng tin tưởng và trung thành với Chúa, phải không con?
- Thưa phải! Nhưng chỉ ở trong lòng con thôi, không dám tiết lộ ra ngoài. Thưa Cha, con cần phải sống để trở về mà làm những việc ích lợi cho gia đình, xã hội, đồng bào và các đồng đội đã nằm xuống. Con không muốn hủy hoại đời mình một cách ngu xuẩn trong những cái lò sát sinh như thế nầy.
- Cha biết.
Hai tiếng "Cha biết" ngắn gọn nhưng thật đầy đủ. Cha Thiện và những tù nhân cải tạo như Long thừa biết rằng đối với người cộng sản, tôn giáo đã bị loại trừ hoàn toàn ra khỏi đời sống. Không có quyền lực nào cao hơn uy quyền của đảng. "Chúa Jesus là của riêng chỉ những người tư bản, không phải của tập thể giai cấp công nông". Hơn thế nữa, ở cái trại tù xa xôi hẻo lánh nầy làm gì có tự do tín ngưỡng.
Cha Thiện hỏi Long trong trại giam còn có người nào theo Thiên chúa giáo. Long kiểm điểm lại, trong số hai mươi trại viên của căn phòng giam chật chội như cái xà lim, còn một người khác, Thiếu tá Mẫn trước thuộc binh chủng Thiết Giáp.
Cha Thiện chờ cơ hội thuận tiện, kín đáo mở lời với Thiếu tá Mẫn:
- Theo sự hiểu biết của Cha thì con là một con chiên ngoan hiền của Chúa?
Nhưng cha Thiện đã thất vọng khi Mẫn trả lời:
- Tôi chỉ là một người tù, tù cải tạo, tù khổ sai. Xin hãy để cho tôi yên thân, ông già ơi.
Cha nhì nhằng:
- Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện. Cha có thể nghe con xưng tội. Chúa sẽ thứ tha và ban phước lành cho con.
Thiếu tá Mẫn gắt:
- Nếu ông muốn ra tòa án nhân dân, ra pháp trường cát, là chuyện của riêng ông. Phần tôi, tôi xin ông hãy câm cái miệng lại.
Nói xong Thiếu tá Mẫn bỏ đi nơi khác. Vậy là Cha Thiện chỉ có Long, người bạn tù duy nhất để tâm sự một cách kín đáo. Đám tù có lần chống tay nhìn Cha Thiện gánh những thùng phân người ra rẫy, dáng ông còm cõi, oằn xuống theo sức nặng ở hai đầu cái đòn gánh, chực gãy ra làm đôi. Một người tù đặt câu hỏi:
- Tôi thiệt không biết sức lực từ đâu ra giúp ông già làm nỗi công việc nặng nhọc như thế?
Một người khác trả lời rất tự nhiên:
- Chúa chớ ai vào đây?
Và một người khác:
- Chúa của Cha Thiện!
Có tiếng cười mỉa mai sau câu nói ấy.
Trời càng ngày càng lạnh hơn, đám tù càng thêm khổ sở. Cục bột luộc chấm nước muối ban sáng chẳng mấy chốc đã biến mất trong những cái dạ dày lép xẹp, rau muống già và dai như kẹo cao su, cũng chấm nước "đại dương", đến heo, chó còn chê, cũng chẳng còn tăm dạng trong hệ tiêu hoá người tù. Ngoài cái lạnh, muỗi, mòng trâu, bọ chét trong áo quần, đĩa dưới rẫy, vắt trên rừng... chia nhau hút máu những bộ xương cách trí.
Suy nhược vì thiếu dinh dưỡng trầm trọng, sốt rét rừng, kiết lỵ vì điều kiện vệ sinh tồi tệ, nhiều người tù vĩnh viễn ra đi trước khi mùa Xuân trở lại, nhiều người khác ngã bệnh. Cha Thiện có thêm công việc mới, kéo xe chở xác những tù nhân ra nghĩa địa, xa hơn đám rẫy rau muống, mãi tận bên kia ngọn đồi.
Một trong những tù nhân lâm bệnh là Thiếu tá Mẫn, ông té xỉu ngoài rừng lúc đang đẵn tre nứa, được các bạn tù khiêng về trại và mê man trong mấy ngày liền sau đó. Cha Thiện ngoài giờ làm việc, luôn túc trực bên mình để săn sóc Mẫn, có hôm Cha thức đến nửa đêm lúc mọi tù nhân khác đã ngủ yên để lấy sức lao động ngày hôm sau. Những khoảng vắng lặng ấy Cha thường lâm râm cầu nguyện. Ngày thứ ba, lần đầu tiên Mẫn mở mắt từ khi bị hôn mê. Cha Thiện mừng quá nói thành tiếng, nói miên man, có thể Cha quên hay không cần biết có người chung quanh:
- Con đã tỉnh lại rồi, Chúa đã cứu con, Chúa đã chấp thuận lời cầu xin của Cha. Bọn cộng sản vô thần hành hạ, hủy diệt thân xác con, nhưng Chúa đã cứu con. Mà con ơi! Chúng hành hạ thân thể con, nhưng linh hồn con thì chúng không thể nào đụng đến, linh hồn con vẫn thuộc về Chúa, mãi mãi cận kề bên Chúa...
Cha Thiện bắt nhái, ễnh ương, bồ tọt... trong những giờ lao động bên ngoài trại. Cha xin nhà bếp từng nhúm gạo nhỏ. Rồi cha gom lại nấu cháo, đút từng muỗng cho đến khi Thiếu tá Mẫn bình phục.
Một ngày trời thật lạnh, gió bấc thổi phần phật từng cơn và tuyết phủ trắng cả đỉnh núi ở đàng xa, Cha Thiện bất ngờ hỏi Long:
- Con có biết hôm nay là ngày gì không?
-...
- Ngày 24 tháng 12, ngày Chúa giáng sinh!
- Chúa giáng sinh rồi sao?
- Cha muốn cầu nguyện! Cha muốn chúng ta cùng cầu nguyện! Chúng ta là hai người duy nhất ở nơi nầy còn tin tưởng nơi Chúa, còn xem ngày Chúa giáng sinh là trọng đại.
- Không được! Cha để bữa khác đi, bữa nay tụi vệ binh đứng gần quá.
Giọng cha Thiện quả quyết:
- Chỉ hôm nay, dứt khoát không thể là một ngày khác, dứt khoát. Ngày khác đó có thể là không bao giờ.
Long nhượng bộ:
- Hay là Cha xuống cái hố ở đằng kia đi.
- Còn con?
- Con đứng ở đây canh tụi nó cho Cha. Nhớ là không quá mười lăm phút nghe Cha!
Long chết điếng trong mấy phút liền sau đó. Những tiếng la hét, đốc thúc tù làm việc của tụi vệ binh từ đàng xa không át nổi tiếng đọc kinh của cha Thiện được gió mang đi...
Giáo đường của Cha Thiện giờ đây là cả đồi núi bao la, bàn thờ là mô đất, hang Bê-lem là hố sâu cạnh đám rẫy, lễ phục là bộ đồ tù tả tơi, rách nát che không kín thân ông. Ông dùng luồng gió bấc lạnh thấu xương thay ban hợp tấu và tự ông hát thánh ca:
"Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời
Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa
Trong hang Bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng
Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng
Đàn hát (réo rắt tiếng hát) xướng ca (dư âm vang xa)
Đây Chúa Thiên Tòa giáng sinh vì ta..."
Bài Thánh Ca hùng tráng quá, giọng Cha Thiện nhiệt thành quá, tất cả làm nên một sức mạnh vô hình kỳ diệu, trong phút giây ngắn ngủi, lực vô hình ấy âm thầm đến với Long, làm Long quên hết sự lo sợ những tên vệ binh, quản giáo cùng những luật lệ, hình phạt của trại cải tạo. Lực vô hình ấy đưa chân Long đến gần miệng hố nơi Cha Thiện đang hành lễ. Long thấy Cha Thiện đang cúi rạp người trong tư thế cực kỳ cung kính và tưởng chừng có tiếng chuông đổ liên hồi đâu đây. Long lại thấy cả máng cỏ, hang Bê lem, có Chúa hài đồng và những Thiên Thần hiện xuống với ánh đèn lấp lánh hào quang. Suốt những năm cải tạo, mỗi mùa Giáng Sinh Long chỉ biết chui vào mùng mà than thở một mình. Than rằng:
"Giáng sinh Thiên chúa trên trời
Mút mùa cải tạo biết đời nào ra"
Đây là mùa Giáng Sinh đầu tiên trong đời người tù, Long cảm thấy lạc quan, tin tưởng vào Thiên Chúa, tin tưởng vào tương lai. Bất chợt Long nghĩ đến những mùa Giáng Sinh tự do trước khi miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm, đến những vần thơ không rõ xuất xứ, nhưng rất thân quen mà bọn nhà binh có chút máu văn nghệ, văn nghệ kaki, như chàng hay ngâm nga:
"Mỗi độ Đông sang con lại cầu
Chúa ban phép lạ cho người thương nhau
Giáng Sinh rồi nhỉ, trời trong suốt
Thông cảm người ơi, đã bắt đầu
....
Nơi đây không có lời khinh ghét
Mà có tình thương Đức Chúa Trời!"
Dưới hố, cha Thiện đang đọc đoạn cuối phần kinh mi sa. Long cất tiếng tiếp lời:
- Và thánh thần ở cùng người anh em!
Ngạc nhiên về sự tự nguyện nhập cuộc của Long, cha Thiện gật gù ra vẻ tán đồng và khuyến khích Long tiếp tục. Cha đọc:
- Lễ xong, con hãy tạ ơn chúa!
Long phản ứng như một cái máy:
- Tạ ơn Chúa! A men!
Lễ mi sa viên mãn.
Cha Thiện nói:
- Lễ đơn sơ quá, không rượu nho cũng chẳng có bánh thánh, Cha mong Chúa hiểu rằng chúng ta không định làm ô danh Chúa.
- Chúa sẽ hiểu mà thông cảm cho chúng ta, Cha Thiện ạ!
- Cám ơn con. Cầu xin Chúa che chở cho chúng ta, những con chiên của Chúa.
Khi cha Thiện còn nấn ná dưới hố thì Long nhìn lại phía sau, thằng vệ binh gần tới nơi. Long tái mặt. Tên vệ binh quát lớn:
- Chúng mày đang làm cái gì ở đó?
Long nhũn nhặn:
- Thưa bộ đội, trời rét quá, cóng cả tay chân. Chúng tôi đang nghỉ mệt, lão già chun xuống hố tránh gió.
- Chưa tới giờ nghỉ, chúng mày trở lại làm việc ngay. Bao giờ nghe tiếng cồng từ phía cổng trại mới được nghỉ, nghe rõ chưa?
- Thưa bộ đội, rõ.
***
Có lần vui miệng Cha Thiện kể cho Long nghe chuyện cuộc đời Cha. Là tu sĩ dòng khổ hạnh, Cha chỉ muốn trọn đời tu học và phục việc Chúa, không muốn can dự vào việc đời. Khoảng năm 1959, theo lời mời của sư huynh Nguyễn Lạc Hoá, Cha xuống thăm đặc khu Hải Yến, làng Bình Hưng, quận Cái Nước, tỉnh Cà Mau, thuộc vùng U Minh tận cùng đất nước. Cha Hoá đã dìu dắt khoảng ba trăm giáo dân tị nạn cộng sản từ miền Bắc, gồm cả người Hoa, đến đây để khẩn hoang, lập một xóm đạo. Dân chúng đã làm việc cật lực để tạo dựng cuộc sống mới, trong điều kiện thiên nhiên thật nghiệt ngã với rừng trầm thủy hoang vu đầy những cây tràm, cây đước, vẹt, năng, lác... cộng thêm muỗi, ác thú. Việc xây dựng nhà thờ và khu gia cư đang tiến hành tốt đẹp thì cuối tháng 5 năm ấy, cộng sản bất ngờ tấn công xóm đạo một cách đại qui mô với đại liên, trọng pháo... làm thiệt mạng ba chục đàn ông, bị thương nhiều đàn bà và trẻ con vô tội. Lý do cộng sản tấn công Bình Hưng vì vùng này nằm kề cận mật khu của họ, làng Công giáo mọc lên như một cái gai và họ nghĩ phải bứng đi bằng mọi giá.
Dân Bình Hưng thề không đội trời chung với Việt Cộng. Hai câu đối trên lòng con kinh chính xuyên qua làng:
"Hải Yến hùng sư trừ phỉ cộng,
Bình Hưng chánh khí quán trung thiên"
Nói lên sự cương quyết của dân chúng trong vùng. Từ đó về sau Bình Hưng trở thành một hình thức "khu trù mật", tự túc, tự cường, tự bảo vệ có hiệu quả khiến cộng quân không thể xâm phạm được. Tận mắt nhìn thấy sự khát máu của cộng sản, lương dân bị sát hại, Cha Thiện thay đổi nhân sinh quan, từ xa lánh việc đời đến dấn thân, mạnh dạn bước vào. Cha Thiện trở nên một linh mục tuyên úy, lo việc tinh thần cho dân chúng và binh sĩ Cộng Hòa. Đó là lý do Long đã gặp cha ở Sư Đoàn 7 Bộ binh.
Sau tháng Tư 1975, Cha Thiện và một số tu sĩ, giáo dân trung kiên tụ họp về nhà thờ Vinh Sơn trên đường Trần Quốc Toản, giữa thủ đô Sàigòn, lập một tổ chức chống lại bạo quyền cộng sản, có quy mô với cả vũ khí. Vụ này Long có nghe nói đến trong trại cải tạo, lúc sắp bị đưa ra miền Bắc. Cơ mưu chẳng may bị bại lộ, nhiều sư huynh, sư đệ của Cha Thiện và giáo dân bị giết, cơ sở bị phá hủy. Phần Cha Thiện bị cùm, tra tấn, biệt giam, chết đi sống lại nhiều lần, bị cải tạo qua nhiều trại tù trên khắp ba miền.
Cha Thiện sụt mất hai chục kg so với thời gian còn làm tuyên úy. Cha nói thật tình không hiểu tại sao còn sống tới ngày nay, có lẽ đó là ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa muốn Cha sống để giao nhiệm vụ cao qúy, chiến đấu chống bọn cộng sản vô thần, làm sáng danh Thiên Chúa.
Long hỏi Cha Thiện còn toan tính chống cộng sản bằng vũ lực hay không. Cha Thiện quả quyết vẫn giữ ý định ấy đến hơi thở cuối cùng. Ngày nào được tháo củi, sổ lồng, có phương tiện Cha sẽ làm ngay, không do dự.
***
Ít lâu sau Long được trả tự do. Đêm cuối cùng trước khi rời trại, Cha Thiện tâm sự là Cha biết sẽ rất cô đơn khi Long rời khỏi nơi nầy. Dù cô đơn, Xha nói sẽ tiếp tục cầu nguyện, tiếp tục làm lễ một mình. Long khuyên Cha cẩn trọng, bởi việc làm lễ có thể ảnh hưởng đến tính mạng Cha. Cha cười hiền và nói:
- Chết à? Con người ai rồi cũng có lúc phải chết. Điều quan trọng là chết sao cho có ý nghĩa.
Trên đất Mỹ, mấy năm sau, một hôm vào lúc hai giờ sáng, Long giật mình tỉnh giấc vì tiếng chuông điện thoại reo không ngừng. Vợ Long than phiền:
- Ai đâu mà bất lịch sự, gọi điện thoại giờ nầy không để người ta ngủ nghê!
Long bắt máy, giọng nhừa nhựa:
- A lô.
- Có phải Đại úy Long đó không?
- Thưa phải. Ai đó?
- Mẫn. Thiếu tá Mẫn Thiết Giáp, cải tạo chung ở trại K7 với ông. Còn nhớ tui hông?
Long tỉnh ngủ:
- Trời ơi! Anh Mẫn. Nhớ chớ sao không! Anh đang ở đâu đó?
- Tôi đang ở thành phố St. Paul, tiểu bang Minnesota.
- Anh qua hồi nào? Công việc làm ăn, sinh sống giờ ra sao? Có vợ con đi cùng?
- Tôi qua Mỹ mới được hai tháng, từ Indonesia, do nhà thờ bảo lãnh. Chuyện dài lắm, hôm nào tôi sẽ kể ông nghe. Lý do tôi gọi ông hôm nay dù biết đã quá khuya rồi, là tôi vừa mới nói chuyện với Thiếu tá Nam ở Houston, Texas; anh Nam cho tôi số điện thoại của ông. Tôi muốn báo cho ông hay một tin mà chắc ông cũng nóng lòng muốn biết.
-....
- Cha Thiện mất rồi. Cha mất trong trại cải tạo K7. Mùa Giáng Sinh hai năm sau khi ông rời trại, tụi vệ binh bắt gặp quả tang Cha đang cầu kinh và dâng thánh lễ dưới cái hố gần đám rẫy rau muống cải thiện. Chúng biệt giam Cha. Khi chúng cho người thăm chừng thì Cha đã chết cóng tự bao giờ. Tôi đưa xác cha đi chôn ở nghĩa trang bên kia ngọn đồi...
Thiếu tá Mẫn tiếp tục nói, nói nhiều, thật nhiều điều nữa, nhưng Long chừng như không còn nghe thấy gì. Ông gác máy lúc nào Long cũng không hay.
Đêm đó không dỗ giấc ngủ lại được, Long ngồi dậy, đi pha cà phê. Uống cà phê, hồi tưởng những kỷ niệm xưa, Long lấy giấy viết làm một bài thơ để tưởng niệm Cha Thiện:
"Nửa khuya chuông đổ liên hồi,
Hỡi cha, cha đã ra người thiên thu.
Bàng hoàng như giấc chiêm bao,
Xa xôi cách biệt ngờ đâu phút này.
Rưng rưng nước mắt vơi đầy,
Cô đơn xứ lạ, ai người tri âm?
Nỗi buồn tức tưởi tháng năm,
Nhớ ngày cải tạo ân cần hỏi han.
Giọng người thuyết giảng âm vang,
Bóng Cha còm cõi giữa trời cắt da.
Nửa đời im bặt thánh ca,
Về bên nước Chúa chắc là sáng danh.
Cha đi nhẹ bước phong trần,
Nợ đời, nợ nước nghìn cân hết rồi.
Ý thơ đứt quãng nghẹn lời,
Bâng khuâng đêm trắng bồi hồi khóc Cha..."
Những mùa Giáng Sinh kế tiếp nơi xứ người, hình ảnh cha Thiện vẫn không nhạt nhòa trong ký ức Long. Ông sừng sững hiện ra, một mình, dáng gầy còm, bất khuất, mái tóc bạc hoa râm. Ông trang trọng dâng lễ thánh trong cô đơn và cầu kinh giữa trời Đông giá buốt. Long thì thầm với chính mình: "Cha Thiện đã không cô đơn và sẽ không bao giờ cô đơn. Chúa chứng minh cho lòng thành của Cha, huynh đệ và các con chiên luôn luôn hiện diện bên Cha, cùng cha cầu kinh và dâng thánh lễ".
Long cho rằng không có một nơi nào trên thế giới nầy, ngay cả trong những giáo đường to lớn nhất, đông đảo tín đồ nhất, đã cử hành được một lễ mi sa có ý nghĩa như Cha Thiện đã làm trong cái hố lộ thiên bên cạnh đám rẫy của trại cải tạo.
Nguyễn Văn Ba




Các Số Báo Trước:


Chuyện người Nghĩa Quân thờ hình của chính mình Phạm Thành Châu.
Vinh danh người lính VNCH (Bài 1)Trần Hoài Thư
Vinh danh người lính VNCH (Bài 2) Trần Hoài Thư
Trả nợ ân tìnhPhạm Tín An Ninh
Nghĩa tử là nghĩa tận Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Trận Bình Giã trong phim The Vietnam WarBùi Anh Trinh
Cù lần lửaHai Hùng SG
Thương lính... nhớ anhSue Phan
Lễ phủ cờ, có nên hay không?Đỗ Văn Phúc
Đà Lạt trời mưa Phạm Tín An Ninh
Những ngày gãy vụnPhan Nhật Nam
Người lính VNCH sẵn sàng vào tù lần thứ 5 vì tự do cho đất nước Huỳnh Anh Tú
Việt Nam Cộng Hòa và người lính Nguyên Thạch
Chân Dung Một H.O. - “Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Sẳng”Huy Phương
Tù Cộng Sản... Tù Cộng HoàPhan Nhật Nam
Phan Nhật Nam Dựa Lưng Nỗi Chết(Đào Vũ Anh Hùng
Trong lửa đỏ, giữa sự chết, trên quê hương! (Phan Nhật Nam
Định mệnh trớ trêuHai Hùng SG
Tấm thẻ bàiNguyễn Minh Châu
Chuyện người lính trinh sátPhạm Tín An Ninh
Vùng xôi đậuĐiệp Mỹ Linh
Tài liệu: Quân Nhân Hải Quân VNCH lập nhiều chiến công trong Cuộc Chiến Giữa Chính Thể V.N.C.H. và Cộng Sản Việt Nam 1954-1975Điệp Mỹ Minh biên khảo
Cơn nước lũĐiệp Mỹ Linh
Người lính VNCH Nguyễn Văn Răng Huỳnh Anh Tú
Người thương phế binh VNCH và những câu chuyện tình Huỳnh Anh Tú
Những Phi Vụ Tản Thương Chưa Hoàn Tất “The Impossible Rescue Mission”Hồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Căn cứ 40 chiến thuật Sư Đoàn 4 Không QuânHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Sau cuộc biển dâuPhạm Tín An Ninh
“Người ở lại Charlie”Mũ Đỏ Đoàn Phương Hải
Viên đạn đã lên nòngKiều Mỹ Duyên
Tháng Tư nhớ lại những ngày QLVNCH tử chiến tại Xuân LộcHồ Đinh
Nhân Ngày 19-6: Viết về người lính VNCH bất hạnhMường Giang
Tinh thần ngày quân lực VNCH 19-6 Đỗ Hồng
Một số nghi lễ thời VNCHLương an Cảnh.
Một thời yêu biểnTam Giang Hoàng Đình Báu
Chiếc ba lô để lạiNguyễn Văn Sâm
Khu rừng lá buôngPhạm Gia Đại
Trung Tá Nguyễn Văn Long Lê Xuân Nhuận
Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh
Tháng Sáu và TôiNgười Lính Già (đxt)
Ngành Hoả Lực KQVNVNAF Xám Một
Buổi điểm danh cuối cùngHuy Phương
Văn Quang và Phạm Hậu, hai ‘linh hồn’ của Đài Quân ĐộiQuốc Dũng & Đằng-Giao
Phóng viên chiến trường: Mỗi cây bút là một sư đoànQuốc Dũng & Đằng-Giao
Đại Úy Quách Vĩnh Trường, người không đầu hàng nghịch cảnhĐằng-Giao/Người Việt
Chết trong tùPhan Việt Thủy
Người Lính VNCH & vành khăn tang Tổ QuốcHoàng Nhật Thơ
Mặt trận Tân Sơn Nhất ngày 29/4/1975Thành-Giang Texas USA
Chuyến ra khơi bi hùngĐiệp Mỹ Linh
Phi vụ cuối cùngCaptain Dương Văn Hoành
Gặp ngày hắc đạoDiều Hâu Nguyên Quân 225
Tạp ghi văn nghệ: Biến cố tháng Tư 1975 trong văn học Việt Nam hải ngoạiNguyễn Mạnh Trinh
Tình Nghĩa Anh emTôn Thất Đàn
Những chuyến bay đêmCaptain Dương Văn Hoành
Buồn đến kiếp nào nguôiKim Thanh
Trình Tổng Thống… tôi quyết định theo tình hình Mũ Xanh Phạm Vũ Bằng
Màu khăn quàng cổTrần Hoài Thư
Lê Thị Ý: Tác giả "Ngày mai đi nhận xác chồng"Đinh Quang Anh Thái
Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu Trung Tá Lữ Triệu Khanh
Cần tài liệu về quân nhân Hải Quân V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hoà đã không thất thủHuỳnh Minh Tú
Nhớ Vũ Cao Hiến với bản Quân trường xưaĐỗ Xuân Tê
Viễn ThámLâm Chương
Kẻ sát nhân Khên-Tông
Một phiên gác đêmPhương Lan
Xuân và người línhNguyễn Mạnh Trinh
Người đàn bà muốn lên đỉnh núiHoàng Nga
Xuân và tình người trên rừng thiêng núi thẳm Vũ Đình Lưu
Người tù binh trở vềTôn Thất Đàn
Một đời cơ khí phi hành (mevos flight engineer) Không Quân VNCHThành Giang
Nhớ Phạm HuấnNguyễn Mạnh Trinh
Chuyện buồn người vợ tùTrần Thanh Minh
Điểm hẹn Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa - Bên nhau đi nốt cuộc đời 2016-2017 Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh
Mùa Giáng Sinh đầu tiên trong tùNguyễn Mạnh Tiến
A Special Christmas MemoryPhan Đức Minh
Nỗi buồn Thương Phế Binh VNCH Cánh Dù lộng gió
Câu chuyện đồng nghiệp y khoaPhương Vũ Võ Tam Anh
Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Trong nghĩa trang buồnHuy Phương
Bay trên lửa đạnKiều Mỹ Duyên
Về một đại đội cũTrần Hoài Thư
"Ride the thunder" Chân dung những anh hùng trong cuộc chiến Việt NamNguyễn Mạnh Trinh
Tháng Ba Gãy Súng – Một Cao Xuân Huy khácNgô Thế Vinh
Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Hồ Phú Bông
Thương Phế Binh bây giờ ra sao? Năm xích lô
Câu chuyện một thương phế binhBích Nga
Tiền sát viên Không Quân ALO-ASOC-DLOHồng Điểu Jovi miệt dưới
Khí phách của người lính Nghĩa Quânnguoiviettudo
Sư Đoàn 9 Bộ Binh - Sư Đoàn Mũi Tên Thép Nguyễn Phùng
Xâm nhập bất thành của những Anh Hùng Biệt Kích DùPhan Lạc Phúc
Viết cho một người línhĐặng Chí Hùng
Đời sống người tù cải tạoBác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Tàn cơn binh lửaBắc Đẩu Võ Ý
Người Xưa ĐâuVõ Thị Vui
Tôi vào lính!Đặng Kim Hoa
Tình đồng đội Philato
Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa: Chuông gọi hồn ai?Sơn Tùng
Bắt đầu nếm mùi miền Bắc XHCNNguyễn Huy Hùng
Người bạn bên kia sôngNguyễn Phú Thanh Huyền
Cuộc đời cơ cực của người lính VNCH Lê Văn Minh Huỳnh Anh Tú
Kế hoạch Delta của Lực Lượng Đặc Biệt Việt-MỹVương Hồng Anh
Người nội trợ trong đơn vịBích Nga
Những lá thư một thời của người lính Trâu ĐiênNgọc Anh
Một chuyến đổ bộ vào Thanh HoáNguyễn Văn Kha
Áo liền quầnNguyễn Viết Tân.
Cái áo Jacket không quânVNAF Nguyễn Viết Tân
Lôi Hổ và chiến dịch đột kích sang Lào và Cam BốtVương Hồng Anh
Những người lính không có số quânTrung Tá Nguyễn Văn Vinh
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 1)Tác giả: Trung Kiên
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 2)Tác giả: Trung Kiên
Người bạn học và ông thầy cũPhạm Tín An Ninh
Sinh Nam tử BắcCá Kình Nguyễn Văn Tâm
Nhớ bạn, nhớ rừng, nhớ thời Lôi Hổ Hạ Sĩ Đoàn Văn Mạnh
Những chuyến đi định mệnh của Biệt HảiBiệt Hải Hồng Phúc
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Biệt Hải trên vùng biển bão tốPhạm Phong Dinh
May mà có emTường Lam
Cái bóng của vị thầy tuPhạm Tín An Ninh
Mảnh đạn B40 & phép nhiệm mầuNguyễn Trãi
Đêm Không Gian Hội Ngộ 2016x…
An phi không quânHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Buổi điểm danh cuối cùng Tạp ghi Huy Phương
Lời hứa bên sôngĐiệp Mỹ Linh
Nghiã Quânnguoiviettudo
Hồi Ký của vợ người tù “cải tạo”Mai Thy
Giấc Mộng Kinh Hoàng Phan Đức Minh
Nhớ Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6: Không Quên những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phan Đức Minh
Quốc Hận 30/4: nhớ lại những cái chết anh hùng Lê Ngọc Danh
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Vợ lính thời chinh chiến...Thôn Nữ Bàu Trai
Chén rượu đêm giao thừaTrần Ngọc Nguyên Vũ
Nguyên Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. Trần Văn ChơnĐiệp Mỹ Linh
Hai ngày gác ở Nghĩa Trang Quân ĐộiCao Bá Tuấn
Lễ phủ cờ, có nên hay không? Nếu có, thì phải nghiêm trang, đúng cách!Trực Ngôn
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Chuyện của một ngôi trườngHà Việt Hùng
Công tác dở dangTrần Thị Bích Nga
Nhớ Tháng Ba Phạm Gia Thụy
Tháng Tư Đen tưởng nhớ Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng TĐ 42/SĐ22BBThăng Long
Tháng Ba Chôn SúngMũ Xanh Lê Khắc Phước
Truyện ký: Đệ nhất phu nhânThái Quốc Mưu
Tưởng Niệm Tướng Trần Văn HaiNgười Lính Già
Có nhau suốt đờiĐặng Kim Hoa
Cái chết của cha tôi Trung Tá Nguyễn Văn Long Giao Chỉ, San Jose
Giờ phút hấp hối cuả thành phố Đà Nẵng: Cuối tháng 3-1975Phan Đức Minh
Tiếm mạo Quân phục của Quân Lực VNCHx…
Trận Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Sư Đoàn 23 Bộ Binh và cuộc quyết chiến Ban Mê Thuột tháng 3-1975 Phạm Phong Dinh
Tôi đi tùNguyễn Nhơn
Tết trong trại tùVăn Quang
Xuân đoàn tụNguyễn Nhơn
Đầu năm nói chuyện về việc định cư Thương Phế Binh VNCH Văn Quang Sàigòn
Tết và những mảnh đời TPB/VNCH bất hạnh Cánh Dù lộng gió
Chuyện người vợ tù cải tạoDương Thị Năng
Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh Phạm Tín An Ninh
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chuyến hải trình định mệnhLê Bá Thông
Dzuy Lynh, người lính chưa bao giờ giải ngũCát Linh
Thương phế binh VNCH khi cuộc chiến tànThanh Trúc
Trách chi người đem thân giúp nước...Giao Chi San Jose.
Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời Tạp ghi Huy Phương
Vị tướng già trong nhà dưỡng lãoHuy Phương
Mùa Noel năm ấyJo.Vĩnh
Đêm hoa đăng bi thảmMĐ Nguyễn Văn Lập
Thương Binh VNCHx…
Tư Lệnh SĐ22BB Lê Đức Đạt tự sát tại chiến hàoVương Hồng Anh
Đại Bàng tháng Tư gãy cánhNguyễn Văn Lập
Đại Đội 3-Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)
Tái chiếm đồi gióNguyễn Phúc Sông Hương
Củ khoai Yên BáyNguyễn Đình Phùng - Phạm Hữu Phước
Tấm ảnh hai người línhPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Phạm Huấn, tháng mười tưởng nhớNguyễn Mạnh Trinh
Đại bàng gẫy cánhPhương Toàn
Nguyễn-Hữu-Cầu, anh là ai?...TLC. Bùi-Trọng-Nghĩa K18/TĐ
Người thương binh Cali
Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến - Đêm Hạ Lào! Đêm sao dài quá!MX Trần-Vệ
Bông hồng kính tặng các chị… “vợ lính”CaptovanK19
Bên bờ vực thẳmHồ Hoàng Hạ
Hành quân biệt kíchVũ Đình Hiếu
Chuyến bay cuối cùngTrần Ngọc Toàn
Những mảnh đời H.O. trên đất MỹNhất Hướng Nguyễn Kim Anh
Nơi người lính đi qua Phan Nhật Nam
Cộng sản nằm vùngPhan Nhật Nam
2015, cố vấn Mỹ tái ngộ Trâu ĐiênPhilato
Biệt Đội Thiên Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo Tuyết Mai
Biệt Đội Thiên Nga Ngọc Lan
Câu chuyện về một nữ quân nhân, và những lời cám ơn chưa kịp nóiPhạm Tín An Ninh
Sáng 30/4/1975 những đơn vị nào tiến về giải cứu thủ đô Saigon bỏ ngỏ?William Hoang
Hồi ức Sàigòn thời lính tráng Nguyễn Ngọc Chính
Cuộc hội ngộ của 2 người Thương Binh Huỳnh Anh Tú
Anh em tôi Nguoiviettudo
Tháng Tám và những người yêu nướcHành Tư
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhPhan Lạc Tiếp
Người bạn của ba tôiNguyễn Thanh Huyền
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhHành Tư
Ngàn nén hương tưởng niệm vị tướng lãnh duy nhất của QLVNCH hy sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975x…
Những chiến sĩ nhảy toán - Nha Kỹ Thuật Lê văn Hậu
Giới truyền thông và tôi Mũ Đỏ Trương văn Út
Tiểu Đoàn 11 BĐQ tại căn cứ CharlieTư Kiên
Bạn Vànghoànglonghải
Đôi mắt thời chiếnThái Bảo
Anh hùng kẻ sĩ Nguyễn Ngọc Trụ: "Tôi không thích chế độ Cộng Sản" Tù Cựu (XM520)
Tù cải tạo trốn trại Nguyễn Hữu Chí
Hồi ức của một sĩ quan tùy viênBảo Định Giang
Tạp ghi văn nghệ: Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Nghĩ về một đội quân đã gác súngViệt Tâm
Câu chuyện về gia đình cố Đại tá Hồ Ngọc CẩnGiao Chỉ
Chết trận Đồng XoàiGiao Chỉ - San Jose
Thương phế binh VNCH - những mảnh đời bỏ lạiHà Vân
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhBùi Tiết Quý
Đời sống người tù "cải tạo" Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Nhớ Vũ Cao HiếnT.Vấn
Ngày buồn nhất đời tôiHuy Vũ
Những trận đánh cuối cùng và chân dung người lính VNCHSơn Tùng
Quãng đời tôi từ chiến tranh đến hoà bìnhLương Phạm
Nhớ nhàBác Sĩ Nguyễn Sơ Đông
Nữ phóng viên chiến trường Điệp Mỹ Linh 40 năm nhìn lạiPhạm Phú Nam
Đắp mộ cho anhKỳ Sơn
Tôi đi thăm chồng "cải tạo"Minh Hòa
Tháng Tư buồn năm ấy!Đỗ Dung
30 tháng 4Hồ Đình Nghiêm
Trận chiến hào hùng và cuối cùng của Thiếu Sinh Quân Vũng TàuNguyễn Lộc Yên
Thiếu tướng Nguyễn Khoa NamViệt Thái
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An LộcViệt Thái
Đi thăm Chồng Trần Văn Giang
Ban Mê Thuột thất thủ như thế nàoNguyễn Định
12 ngày đêm trận chiến Xuân LộcMặc Lâm
Chuẩn Tướng Quân Lực VNCH Lê Nguyên Vỹ, Vị Anh Hùng Tuẫn Tiết Ngày Quốc Hận 30-4-1975 x...
Đại Tá Hồ Ngọc CẩnNguyễn Văn Khậy
Nguyễn Ngọc Hạnh - Triển lãm lần cuối cùngGiao Chỉ SJ
Khi con người muốn làm con bòHoàng Lân
Anh hùng Hồ Ngọc CẩnViệt Thái
Trận đánh cuối cùng của một Đại úy Bộ binh VNCHHòa Ái
Những ngày cuối cùng của Huế và Đà NẵngLê Hùng
Từ chiến trường Khe Sanh đến chiến dịch Tết Mậu ThânPhan Đức Minh
Tấm Thẻ Bàix…
Tâm bút: Cố Hải-Quân Trung Tá Hồ Quang Minh, một sĩ quan can trường, đảm lược của các đơn vị tác chiến H.Q./ V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Hành trình HOMặc Lâm
Câu chuyện cảm động của một Đại Tá phi công Hoa Kỳ từng bị tù VCWilliam S. Reeder
Cho bác ăn thịt trâuBồ Tùng Ma
Mùa Xuân ở Suối MáuNguyễn Thiếu Nhẫn
Valentine trong di sản chiến tranhGiao chỉ San Jose
Tạp ghi văn nghệ: Thơ cảm khái cuối nămNguyễn Mạnh Trinh
Hành trình làm xin hưởng quyền lợi theo qui chế Quân Đội Đồng Minh của Hội Cựu Chiến Binh ÚcLương An Cảnh
Viết những dòng này…Trần Trung Tá
Một ngày Thủ Đức-Một đời Thủ ĐứcTrúc Giang MN
40 năm cuộc sống người thương phế binh VNCHGia Minh
Xuân về trên đầu súng! Lê Tường
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
Hải chiến Hoàng Sa dưới ký ức của một người tham chiếnMặc Lâm
Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại kể về hải chiến Hoàng Sa 1974 x…
Sau 39 năm, nhìn lạiNgô Đình Châu
Thằng nhỏ cầm cái lon…Minh Tạo
Phong Lôi HổĐiệp Mỹ Linh
Trần Công Minh, xạ thủ trực thăng chết trẻ Huy Phương
Giọt máu rơi của người lính chết trẻPhùng Annie Kim
Vĩnh Biệt Nguyễn SơnMũ Đỏ Út Bạch Lan
Biên trấnKiều Mỹ Duyên
Những ngày gãy vụn
Thanksgiving: Tạ ơn Chiến Sĩ Cộng HoàChu Tất Tiến
"Giã từ Sàigòn" Cao-Đắc Tuấn
Chiều dừng quân bên biên giớiKiều Mỹ Duyên
Chiều mưa trên đồi simKiều Mỹ Duyên
Người tù, chiếc lon gô và nhà kỷ luậtĐỗ Văn Phúc
Chuyện tình thời mất nướcLê Dủ Chân
Vui lây với ngày Hội Ngộ Quân Y Hải Quân toàn thế giới năm 2014Trúc Giang, MN
Người lính bảo vệ tự do - Trung tá Lê Văn Ngôn trấn thủ Tống Lê Chân như thế nào?Đổng Duy Hùng
Khóa 10, CSQG những ngày cuối cùngNguyễn Minh Hùng (K10)
Hồi ký: Kỷ niệm hội ngộ Khóa 6/68 SV/TB Thủ Đức, 2014 và những hoài niệm riêngĐiệp-Mỹ-Linh
Vài kỷ niệm với Công Ty Đại DươngChu Tất Tiến
Gương bất khuất trong tù Đỗ Văn Phúc
Đằng sau cuộc chiếnPhạm Tín An Ninh
Ngu như lợnCao Xuân Huy
Vợ LínhNguyễn thị Thêm
Trả lại sự thật cho chiến sử VNCH một chiến công bị quên lãngĐỗ Văn Phúc
Như Hoa Cỏ RụngAn Phu Vang
Tại sao không giữ lời hứa với Mẹ tôiNguyen Bao Tuan
Lịch sử bức tượng “Thương Tiếc” Nguyễn Ngọc Chính
Người lính tiên phongGiang Văn Nhân
Người lính làm thơ mang bút hiệu Trạch GầmĐinh Lâm Thanh
Xin Tri ÂnHùng Biên
Người lính già không bao giờ chếtLê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn
Tùy bút: Hai người em Sĩ Quan Thủ ĐứcĐiệp Mỹ Linh
Đồn Dak SeangTrường Sơn Lê-Xuân-Nhị
Ông giáo sư dạy SửVương Mộng Long
Đọc "Sau cơn binh lửa" của Song Vũ Nguyễn Kỳ Phong
Song Vũ, người vẫn chưa thể bước ra khỏi cuộc chiếnĐỗ Trường
Chuyện người lính trinh sátPhạm Tín An Ninh
Một kỷ niệm khó quên đêm 30/4/1975Tiêu Nhơn Lạc (MĐC67)
Phi vụ rọi ếchHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Ánh: Người chết ở giờ thứ 25Đông Phương
Tạp ghi văn nghệ: Nói chuyện với nhà văn Song VũNguyễn Mạnh Trinh
Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”theo VienDongDaily
Ghi tạc Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng HòaNguyễn Lộc Yên
Hào hoa là lính không quânHoàng Khởi Phong
Tôi không chết đâu (1975) Cao-Đắc Tuấn
Thắp nén hương lòngMi Sa
Tháng Tư Đen, đọc lại “Thép Đen” của Đặng Chí BìnhNhư Hoa
Hương Bồ KếtHạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Mật khu và Chiến Khux…
Vài mẩu chuyện về Tướng Cao Văn Viên Người Lính Kèn (SA)
Hành trình HOMặc Lâm
30 tháng 04 - Đập cổ kính ra tìm lấy bóng... Nguoiduatin
Trận Chiến Đấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4, 1975CTSQ Nguyễn Anh Dũng và CTSQ Lâm A Sáng
15 ngày tử thủ Phan RangPhạm-Ngọc-Sang
Đem quá khứ, gửi tương laiGiao Chỉ San Jose
Bia đá đợi chờ - 39 năm sauGiao Chỉ SJ
30-4: Ngày tháng sau cùng, anh ở đâu?Captovan
Tấm Thẻ Bài Trần Thiện Phi Hùng
Lữ Đoàn 147: Từ một cuộc di tản chiến thuật 1975Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
Tưởng niệm vị tướng của mùa hè đỏ lửa: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007) Nguyễn Kỳ Phong
Thương tiếc Tinh Long 7 PĐ 821 bị bắn rớt trên không phận TSN sáng sớm ngày 29/4/1975!Thái Ngùng
Buổi dạy Việt Văn cuối cùngVương mộng Long
Tìm thấy 21 hài cốt quân nhân VNCH tại Thuận An, HuếHuy Phương
Trận chiến sau cùng của Tiểu Đoàn 9 Thuỷ Quân Lục ChiếnTân An Đoàn Văn Tịnh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Nhân ngày giỗ đầu của nhà truyền thông Vũ Quang NinhNguyễn Mạnh Trinh
Không một lời than thởGiao Chỉ, San Jose.
Tháng Ba không đềN.C.M
Tết lính nhìn lạiPhương Toàn
Con gái của người ta Trần Thiện Phi Hùng
Ba của người TaCon Gái của Trần Thiện Phi Hùng
Một chuyện tình không tên, có thật của một cựu phi công thuộc KQ/QL/VNCHPhạm Tín An Ninh
Thời thế, thiện, ác, và... con người Vương Mộng Long- K20
Phóng viên chiến trường Nguyễn CầuGiao Chỉ, San Jose
Nhớ nhàBác sĩ Nguyễn Sơ Đông
Đón xuân nầy nhớ xuân xưaHHS.Delta81BCND
Lễ hạ kỳ ngoài khơi Subic Bay 12 giờ trưa 7 tháng 5-1975Giao Chỉ, San Jose
Chuyện kể trong tù nhân một dịp Tết: Kho vàng của thượng tướng CSVN Chu Văn TấnVõ Đại Tôn
Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế LânVăn Quang, Sàigòn
Tâm sự 40 năm với 4 Chiến hữu Người nhái đã hy sinh vì Hoàng Sa Đặng Đình Hiền
Nỗi uất hận của vị tướng thất trậnTopa
Một câu chuyện buồn 74 Nhóm Hành Khất
Kẻ sống sót trong trận Hải chiến Hoàng Sa Nhóm Hành Khất
Bút ký: Một cái Tết khó quênPhan Đức Minh
Lá thư Giáng Sinh không gởiĐinh văn Tiến Hùng
A Special Christmas Memory Phan Đức Minh
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Nghệ thuật bỏ đói Huy Phương
Tấm thẻ bàiThanh Vân
Anh Linh Tử Sĩ VNCH còn mãi mãiNguyễn Thị Trúc Mây
Nhớ về người Tư Lệnh cũ Đỗ Văn Phúc
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong những ngày cuối cùng tại miền Nam VNMũ Đỏ Nguyễn Văn Đỉnh
Phi vụ tử thầnLý Tống
Ngọn lửa hình như chưa nguội trong trái tim của người lính năm xưa Huy Phương
Trò chuyện với “một người lính viết văn”: Phan Nhật NamHoàng Lan Chi
Tiểu sử ngành Quân Nhạc QLVNCHx…
Người vợ lính ở Thủ ĐứcGiao Chỉ
Một chuyến điĐỗ Phương Khanh
Những con cào cào xanhDương Thịnh
Vượt tuyến Mỹ Chánh Song Chùy 11