NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao

Một Thuở Kaki

 

Ngành Hoả Lực KQVN

VNAF Xám Một




Vietnamese Airforce trên tần số không lưu gọi tắt VNAF

Trong KQVN (VNAF) có thể kể các phi cơ thuộc về ngành hỏa lực thì có rất nhiều, vì KQ/VNCH chúng ta có rất nhiều loại phi cơ trang bị vũ khí có thể gây thiệt hại cho địch, dưới đất hay trên không.
Ngoài lực lượng khu trục chiến thuật của KQ/QL/VNCH chúng ta có lúc lên quá 300 chiếc, còn có trực thăng võ trang, escort yểm trợ hành quân trực thăng vận, phi cơ vận tải võ trang AC mà thường biết với biệt hiệu Hỏa Long, Hắc Long, Tinh Long. Vì chiến tranh tại Việt Nam không giống chiến tranh nào khác trước kia, nên ngành hỏa lực của KQVN có phần đa dạng, như một sự kết hợp các Không Binh Hoa Kỳ vào một tổ chức duy nhất là Không Quân. Cuộc chiến tranh đặc biệt này lại xảy ra trên đất nước chúng ta chứ không phải giữa nước chúng ta và nước của phe địch nên vấn đề nắm vững chủ quyền không gian chưa được coi trọng. Cũng vì thế mà KQVN chỉ đóng một vai trò thụ động, lệ thuộc vào sự chỉ huy trực tiếp của lực lượng diện địa trên khắp chiến trường.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam 1959-1975, KQVN đóng vai trò chủ yếu là yểm trợ cho lực lượng diện địa trên lãnh thổ của mình. Không có giới tuyến hay chiến tuyến! Nhưng vào năm 1964, chúng ta đã tung một số lực lượng đánh trên đất Bắc ngoài vĩ tuyến 17. Tuy không thể so sánh với Do Thái khi bất thần đánh bại Không Quân các nước Á Rập lân bang như Ai Cập, Syrie và Liban chỉ trong vòng sáu ngày hồi năm 1967, nhưng vượt Bến Hải tự do oanh kích các mục tiêu quân sự địch trên đất địch là một cuộc hành quân riêng biệt của Không Quân chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, vì chưa đủ lớn mạnh để làm việc đó, chúng ta đã phải nhờ đến Mỹ bao cho các nguồn yểm trợ khác như tình báo, kiểm báo, cứu cấp, và nhất là phản không (counter air) khi có phi cơ phòng không của địch lên truy cản. Và ta chỉ đánh một đòn rồi về chứ không có quy mô từ nhỏ tới lớn hay từ điểm tới diện gì cả.


Hình 1: Skyraider A1-H hay AD6

Trong khi đó, phi cơ Hoa Kỳ tham gia đánh Bắc được tổ chức thành nhiều đợt tấn công trong một ngày. Trước hết là một đoàn khu trục có nhiệm vụ đặc biệt tiêu diệt các hệ thống dò tìm của địch gồm hai hệ thống radar khác nhau VHF và UHF, các hệ thống radar hướng dẫn truy cản (GCI=Ground Control Intercept), các radar xạ kích hoả tiển địa/không SAM-2, và hệ thống truyền tin chỉ huy của hệ thống phòng không Bắc Việt. Một số phi cơ khác chuyên về phá rối hệ thống vô tuyến, radar của địch. Một số khu trục cơ khác chiếm lãnh các phi trường của địch không cho phép máy bay địch cất cánh. Và sau cùng mới tiến hành các đợt tấn công từ nhiều phía, Thái Lan, Hạm Đội 7, từ Guam và từ Nam Việt Nam. Máy bay của Đồng Minh bay từng đoàn đông và dài như một hành lang, trong các hành lang tấn công đó có phi cơ thả bom và phi cơ hộ tống, có phi cơ điện tử để đánh lạc hướng bằng những decoy bắn ra từ các B-52, có phi cơ điện tử để hướng tuyến LASER vào các mục tiêu khó đánh và nguy hiểm để tới gần hầu có thể sử dụng Smart Bomb. Máy bay bay vào không phận Bắc Việt nhiều đến độ bảo hoà các màn ảnh radar nếu có radar nào còn khả dụng, trên đó địch chỉ thấy một vệt sáng choang chứ không thể nào đếm được loại hay số lượng máy bay xâm nhập. Một AWACS (Aircraft Warning Airborne Control System) làm Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch trên không để điều khiển phi cơ phản không khi cần thiết, và điều động cứu cấp khi có phi cơ lâm nạn. Nói sơ lược về tổ chức tấn công ngoài lãnh thổ để cho thấy tầm vóc của KQVN ta có đủ khả năng làm việc đó một mình không.
Trở về với nhiệm vụ chính là yểm trợ hỏa lực cho chiến trường miền Nam. Trước hết phải nói về chiếc Skyraider A-1H. Hùng hậu về hỏa lực - có thể mang tối đa đến 8,000 lbs với sức công phá dữ dội của 4 đại bác 20 mm, bao vùng được lâu - tối đa 8 giờ bay (khả năng giới hạn của tiêu thụ dầu) nếu có đủ xăng (5 giờ rưỡi nếu không mang bình xăng phụ), phi cơ này có mặt đều đều trên không phận hành quân làm cho địch khiếp sợ và cho bạn yên lòng. Với ba dàn trong và 12 dàn ngoài, A-1H/G có thể mang nhiều loại vũ khí khác nhau (từ 3,000 lbs ở dàn trong, và tối đa 8 dàn ngoài có sức mang đến 500lbs). Trong việc sử dụng, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn như sau: không biết lúc nào cần trang bị vũ khí gì, vì khi điều động tổng quát thì có gì sẵn sàng là ta dùng để cất cánh ngay; tiếp liệu không đáp ứng nỗi nhu cầu từng lúc, cần bom chùm, CBU, hay bom nổ chậm hay nổ chụp (VT fuse) thì không có sẵn, mà thiếu sót đó không vì ngành tiếp vận mà vì không ai dự đoán được, hay không biết mà dự trù; người ấn định mục tiêu không rõ về mục tiêu cần đến loại vũ khí gì, và cũng không có người cố vấn họ hay là họ không thèm nghe lời cố vấn của chuyên viên, chỉ biết khu trục đồng nghĩa với phi xuất hành quân là đủ. Và thậm chí khi nói đến phi xuất, họ cũng không biết được thời gian trang bị cho một phi cơ là bao nhiêu. Đó là thời gian “xoay vòng” mà người Mỹ thường gọi là “turn around time”. Trong cuộc “chiến tranh sáu ngày” của Do Thái năm 1967, một chiếc oanh tạc cơ nhẹ Vautour (do Pháp chế tạo) bay sáu phi xuất một ngày, thời gian xoay vòng là 30 phút. Thời gian xoay vòng trên A-1H là 90 phút cho một phi tuần nhẹ (hai phi cơ). Và nếu ta có được máy nâng bom (vì A-1H/G rất cao) thì đỡ hơn nhiều, vì chúng ta không có mấy người được như “Kính Voi”, một chuyên viên vũ khí khỏe mạnh. Cỡ bom 100lbs thì anh chỉ một mình là đủ rồi, còn cỡ lớn hơn mới dùng đến hai người. Đó là những yếu điểm trong hệ thống điều hành hành quân chung của chúng ta làm chúng ta không phát huy được tiềm năng chiến đấu của mình.


Hình 2: F5A

Điểm kế tiếp càng quan trọng hơn khi KQVN bắt đầu sử dụng phản lực cơ. Trước hết phải nói về hai loại khu trục của chúng ta là F-5 và A-37. Hai chiếc này xuất thân từ hai chiếc máy bay huấn luyện T-38 và T-37 cải bổ lại. Mục đích chính là người Mỹ sẽ bán được hai loại máy bay này cho các quốc gia nhược tiểu muốn vươn lên, để họ có thể tự hào nắm trong tay một chiến cụ tiên tiến, nhất là F-5 là một máy bay siêu thanh. Trên chiến trường Việt Nam, hai chiếc này hoàn toàn không thích hợp. Nếu ta có được chiếc A-4E Skyhawk thì hoàn toàn khác hẳn, vì A-4E có khả năng mang 4 dàn bom, mỗi dàn mang đến 6 quả 500lbs bằng một đòn gánh gắn vào dàn bom chính. A-4E cất cánh được từ hàng không mẫu hạm nên chỉ cần phi trường có đường bay rất ngắn, không cần phải có dù đuôi khi đáp. Cũng vì sự tự hào của Không Quân Hoa Kỳ mà KQVN không thể dùng A-4E của US NAVY, và chắc cũng có nhiều lý do khác mà US NAVY không chịu cho KQVN sử dụng máy bay mà họ đang dùng.
Trở lại hai chiếc F-5 và A-37 của chúng ta thì thấy rõ sức chở bom rất kém, súng lại không bằng nhất là trên A-37 coi như không có súng. Tốc độ lại nhanh hơn A-1H/G nên bay cao và không thấy rõ được mục tiêu bằng A-1H/G khi oanh kích cần chính xác. Là phản lực cơ nên dễ bị bắn rơi khi trúng vào nhược điểm mà chuyên viên thường gọi là “aircraft density”, nghĩa là tỷ lệ nhược điểm trên khắp phi cơ cao hơn trên A-1H/G rất nhiều. Khi Phạm Phú Quốc đáp xuống sông Saigon vì máy bay bốc cháy, xem kỹ chiếc A-1H đó đã lãnh 72 viên đại liên 12.7 ly của dinh độc lập, nhưng chỉ có một viên kẹt vào “valve’ nhập xăng vào “xy lanh”, nên xăng phun ra ngoài và làm cháy. Điều đó cho thấy A-1H chịu đựng rất tốt. Bất cứ phản lực cơ nào khi bị trúng đạn vào máy nén (compressor) thì nổ tung ngay.


Hình 3: A37

Điểm quan trọng kế tiếp là thời gian trên vùng. Phản lực cơ không thể bay lâu trên vùng để trấn an bạn và làm cho địch lo âu. Nhưng phản lực cơ có thể đến trên vùng nhanh chóng. Nói cách khác, hoặc là làm như Mỹ, hoặc là làm theo Pháp, theo ai cũng nên biết tại sao.
Nếu làm theo Mỹ thì chỉ tính làm sao số phi xuất của một đơn vị một ngày được ấn định theo khả năng của đơn vị, và cứ theo chương lịch hằng ngày mà phóng lên quỹ đạo, không cần biết đâu là mục tiêu. Muốn sản xuất tối đa phi xuất trong ngày thì người Mỹ áp dụng “smooth flow operation”. Ví dụ mỗi 30 phút cho lên một phi tuần nhẹ. Tại sao 30 phút như ví dụ đã nêu, vì họ căn cứ vào thời gian xoay vòng. Nếu ta có 10 chiếc khả dụng trong ngày mà cho lên một lần 10 chiếc, xong sau khi 10 chiếc đó đáp lại, ta cho xăng dầu và bom đạn trang bị lại thì tốn nhiều thời gian vì các giới hạn nhân vật lực của từng đơn vị như xe bồn, xe nâng bom chẳng hạn, và nhất là chuyên viên trực ngày hôm đó. Trái lại, nếu mỗi lần trang bị lại chỉ có hai phi cơ, xong rồi cho lên, và nối tiếp trang bị lại cho hai phi cơ khác thì sẽ không trở ngại về nhân vật lực của đơn vị. Lúc nào ta cũng có được máy bay sẵn sàng trên không để ta điều vào mục tiêu tức thời nào ta muốn. Sau khi thi hành phi vụ, máy bay tự động trang bị lại, và cứ như thế từ đầu cho đến cuối ngày. Làm cách này sẽ đạt được số lượng phi xuất tối đa, mà đối với Mỹ là một thành tích đo lường khả năng một đơn vị. Đối với cơ quan điều kiểm thì mệt nhọc hơn nhiều, vì bất cứ lúc nào mình cũng phải biết mình cần yểm trợ hỏa lực ở đâu. Nếu không có mục tiêu yểm trợ quân bạn thì phải sẵn sàng mục tiêu “oanh kích tự do” hay “quấy rối’ trên vùng hậu cứ của địch (H&I= Harassment&Interdiction) để giải tỏa bom đạn trước khi đáp. Áp dụng mô thức của Mỹ rất tốn kém, nhưng đáp ứng được nhu cầu sẵn sàng chiến đấu (readiness).


-Hình 4: L19 Birddog

Theo mô thức của Pháp, hay đúng hơn là cách quản lý tài nguyên tiết kiệm của thời xưa, thì chúng ta phải đặt túc trực dưới đất để chờ khi hữu sự là cho cất cánh ngay. Cũng giống như mô thức trên, phi cơ xuất trận không khi nào có trang bị thích hợp cho chiến trường. Nhiều khi đơn vị trang bị tổng quát sao cho tiện việc của đơn vị. Chỉ có khi nào biết rõ nhu cầu mục tiêu mới có đầy đủ lệnh trang bị thích hợp. Bù lại với thời gian trên vùng rất ngắn, F-5 và A-37 đều có tầm hoạt động xa căn cứ xuất phát hơn, nhờ tốc độ cao hơn A-1H/G. Do đó, nếu khéo sử dụng thì bất cứ lúc nào, ta cũng có thể tập trung một hỏa lực yểm trợ hùng hậu. Ví dụ muốn tấn công một mục tiêu ở trong Vùng 3 Chiến Thuật, ta có thể điều động máy bay từ Phan Rang, Bình Thủy và Biên Hoà.


Hình 5: AC47

Vấn đề phòng không của địch gia tăng trong thời gian sau cùng gây trở ngại rất lớn cho các loại máy bay chậm chạp như A-1H/G, nhất là súng phòng không nặng 37 ly và SA-7. Để dành lại không gian, phải tiêu diệt các ổ súng phòng không 37 ly. Điều này có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Ta có thể đưa các toán của Lực Lượng Đặc Biệt đột kích phá hủy nòng súng và tiêu diệt nhân viên chuyên môn sử dụng súng vì đây là loại súng cộng đồng. Có thể đặt pháo binh bất thần tập trung hỏa lực vào các ổ súng phòng không địch, chắc chắn cũng có pháo binh địch yểm trợ bảo vệ. KQVN có thể dùng các loại bom như Napalm thả ngay trên súng để lấy sức nóng làm cong nòng súng. Có thể thả bom chùm để tiêu diệt nhân viên chuyên môn sử dụng súng. Những phi vụ như vậy đều rất nguy hiểm và khó khăn, vì phải bay chính xác ở cao độ thấp và giữ cao độ thấp để rời vùng mục tiêu. Do đó, tin tức tình báo phải chính xác, tốt nhất là có không ảnh và hành động kịp lúc trước khi súng được di chuyển nơi khác. Có rất nhiều loại CBU có dù cho ta thả ở cao độ thấp để bom chỉ nổ sau khi máy bay bay ra khỏi tầm mãnh bom. Dùng cao độ thấp mới có thể tạo được bất ngờ, vì các súng phòng không đều có radar yểm trợ tin tức về hoạt động của ta trên không. Bay thấp còn hoá giải được SA-7 thường yểm trợ hổ tương cho súng 37 ly, vì bay ngang quá nhanh và thấp với nhiều trục khác nhau thì người xạ thủ không biết đâu mà chận trước đường bay mà bắn. SA-7 là hỏa tiễn tầm nhiệt nên chỉ bắn ở 6 giờ của ta. Giống như hỏa tiễn không/không AIM-9 mà ta dùng trên F-5E, hay chính xác hơn là Red Eye mà Lục Quân Mỹ dùng, SA-7 không thể quẹo gắt trên 3G. Vì vậy, khi rời vùng mục tiêu, vẫn giữ cao độ thấp và làm nhiều vòng quẹo gắt ít nhất 3G... Trong phi tuần có thể giúp đỡ quan sát cho nhau để phản ứng thích hợp. Nếu ta tấn công từ cao độ cao, thứ nhất ta không gây được yếu tố bất ngờ. Thứ đến, ta phải xuyên qua một rào phòng không bắn chận (tir de barage) mà ngoài Bắc đã hạ được nhiều nhất phi cơ Mỹ nhờ súng chứ không phải nhờ thứ khác như SA-2 hay MIG-21. Thứ ba là không tấn công chính xác vào mục tiêu như khi bay thấp. Đó là lợi điểm của phi cơ bay nhanh, nhưng cũng là kỹ thuật phải tôi luyện cho thuần thục, vì bay thấp rất khó điều hành. Tại Trường Khu Trục ở Maroc, người ta tập bay hợp đoàn trên các loại máy bay T-33 và Vampire V, bay thấp đến độ chim cò vụt bay lên từ dưới đất đập vào cánh phi cơ thịt nát xương tan đỏ khắp cánh. Khó hơn hết là những hợp đoàn bốn chiếc theo đội hình diamond quẹo gắt 3G, nếu lỡ bị rớt ra ngoài thì vô phương tập họp lại được. Điều đó cho thấy không có cái gì không luyện mà thành, và cũng chứng minh rằng một hỏa tiễn SA-7 sau khi được phóng đi tăng nhanh tốc độ không thể nào tập họp với ta được nếu ta quẹo gắt với 3G.


Hình 6: AC119K

Ngành hỏa lực của chúng ta đã có lúc thay thế B-52 trong các phi vụ trải thảm bom theo sự hướng dẫn của hệ thống BOBS (Beacon Only Bombing System). Có điều hệ thống này kết hợp hoạt động của Range Beacon nên không có độ chính xác đáng tin cậy. Biết đâu đánh trật mà địch có tình báo để chạy ra khỏi vùng nguy hiểm lại bị ta đánh trúng. Range là một loại beacon cho ta các trục từ beacon tỏa ra ngoài. Nếu dùng radio range làm phương tiện homing, thì ta bay từ vùng rộng đến vùng hẹp và chính xác dần đến beacon. Càng xa beacon chừng nào, độ tỏa ra của trục liên hệ càng lớn. Nói cách khác, trục đó quá rộng khi đã quá xa beacon, và chỉ chính xác hơn khi gần beacon. Những điểm cắt nhau của các trục ấy cho ta một điểm nào đó trên tọa độ, nhưng vì sống tỏa ra nên chỗ hai trục cắt nhau là một vệt dài thay vì là một điểm. Mỹ cũng đã thí nghiệm dùng hệ thống Loran để thả bom. Nhớ có kỳ ngay sân bay Đà Nẵng, kho xăng bị nổ tung. Ai cũng ghi thành thích cho đặc công Việt Cộng, ai ngờ đó là A-6 của USNAVY trắc nghiệm hệ thống Loran, lấy các điểm giao của nhiều Hyberbol từ xa chuyển đến. Hệ thống Loran có cái lợi là beacon Loran dùng HF nên phát đi rất xa. Nhưng chính xác thì như các bạn thấy, vì họ phải thử trong tình trạng thời tiết xấu nên không thấy gì dưới đất mới thả bom như vậy, chứ nếu hoa tiêu đã thấy thì tất nhiên không dại gì mà thả. Đó là nói sóng điện tử rất trung thực đối với địa dư đồi núi xung quanh vùng. Còn nếu sóng bị dội cong hay méo mó thì chỉ có Trời biết mà thôi. Vì vậy, dùng BOBS chỉ là giai đoạn thí nghiệm. Điều mà người viết bài này thích nhất là có sự điều khiển ngay dưới đất gần mục tiêu lớn cỡ cấp trung đoàn hay sư đoàn. Lực Lượng Đặc Biệt đã nhiều lần kết hợp hoạt động của họ với Không Quân chúng ta. Vì nhiệm vụ, họ phải theo sát các đại đơn vị địch. Các toán LLDB này chỉ cần mang theo một máy phát sóng UHF mà ta biết tầng số, và theo qui ước nào đó, như họ chỉ ở một cây số phía Nam mục tiêu, ta có thể dùng máy phát sóng nhẹ nhàng đó để nhắm hướng bay đến mục tiêu ở cao độ thấp và tấn công bất thần. Nếu họ phối hợp thường xuyên được với ngành hỏa lực KQVN thì họ có thể hướng dẫn chính xác cho máy bay hơn là qua hệ thống điều kiểm chiến thuật để lộ rõ mục tiêu cho gián điệp.


Hình7: UH-1H cải tiến thành trực thăng võ trang Gunship



Hình 8: OV2
Trong các cuộc hành quân thông thường yểm trợ hỏa lực, phải nói thành công hay thất bại đều nhờ một phần lớn nơi sự hướng dẫn khéo léo, nhanh chóng và chính xác của các phi cơ O-1A, O-2, U-17A trong nhiệm vụ điều không tiền tuyến. Từ sự phối hợp chặt chẽ với pháo binh trong việc tiền kích dọn bãi đáp cho trực thăng đổ bộ cho đến khi đụng trận với địch, từ sự chọn lựa trục đánh thích hợp để không nguy hiểm cho quân bạn còn phải chọn thuận gió cho khu trục cơ đạt độ chính xác cao, vai trò của sĩ quan điều không tiền tuyến là một vai trò phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm chiến trường và dầy công tu luyện. Ngoài ra, SQĐKTT là giới chức thẩm quyền xin không trợ hỏa lực nhanh chóng khi cần, chuyển thẳng từ cánh quân đang đụng trận đến cơ quan thẩm quyền cao nhất là Trung Tâm Hành Quân Không Trợ thay vì phải xuyên qua hệ thống đến tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn rồi mới đến quân đoàn liên hệ mới được cứu xét chấp thuận. Theo kế hoạch phối trí sau cùng các toán Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân/Sĩ Quan Điều Không Tiền Tuyến đều được đặt cạnh các tiểu khu trong mỗi vùng chiến thuật. Nhờ vậy, đâu đâu cũng đều có phương tiện máy bay quan sát lên vùng hành quân, và từ đó hướng dẫn khu trục cơ khi cần. Chính những người bạn này am hiểu tình hình địa phương, có thể nói là ở đâu có một cây chuối vừa mọc lên bất thần, họ cũng biết được, và nhờ đó đóng góp trực tiếp vào hiểu quả của ngành hỏa lực chúng ta.
Ngành hỏa lực KQVN còn có liên quan đến trực thăng võ trang và vận tải võ trang mới đầy đủ được. Tiếc rằng những ngành ấy không trong vòng hiểu biết của chúng tôi, nên nhờ các bạn bổ túc cho. Những điều đã viết ở trên chỉ nhằm mục đích gợi lại một hành trình gian khổ của bao nhiêu người từng đi mây về gió, những người đã hy sinh cho tổ quốc thân yêu và những người may mắn sống còn.
VNAF Xám Một
(VNAF Jo. Vĩnh chuyển)



--------------------

Huy Phương



(Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Ngày mới bước chân đến Mỹ, với tuổi mới trên 50, lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia niềm vui của con cháu mình và con cháu bạn bè, tháng nào chúng tôi cũng phải tham dự một hai tiệc cưới. Bây giờ suýt soát tuổi 80, sắp lên chức “cố,” cả năm không còn khăn áo chỉnh tề, lên xe “phó hội” ký tên vào sổ vàng, tươi cười đóng hụi chết, mà áo trắng, cà vạt đen, mặt mày buồn thảm đi viếng tang cũng khá nhiều.
Bạn bè, đơn vị cũ, một thời chinh chiến hay là long nhong thời thơ ấu, ông thì nằm trong nhà hưu dưỡng đã hơn năm, ông thì đi gậy chống, walker hay ngồi xe lăn, ông thì đã thành tro bụi chứa trong cái hũ có khắc tên để trên chùa, hay ra nằm ngoài nghĩa địa với bia mộ đề tên! Bây giờ không còn vào nhà hộ sinh để thăm cháu ra đời, hay chúc mừng hôn lễ của ai nữa, mà toàn đi nhà dưỡng lão, bệnh viện hay tang nghi quán!
Có người bạn mới gặp ở quán cà phê, tươi vui, yêu đời, vài hôm sau vừa nghe tin đột quỵ. Sau một vài tuần ở bệnh viện và trung tâm phục hồi trở về, bây giờ không còn nói được, tay chân lẩy bẩy, gặp nhau, ứa nước mắt, mà không khóc, sợ bạn buồn nản chí.
Trong nhà hưu dưỡng, đi thăm một người bạn khác, gặp một người bạn biến chứng tiểu đường, mắt đã mù, nằm ở đây đã bốn năm, còn nhớ tiếng nói của bạn mà mừng, nhưng không còn trông thấy nhau nữa. Rồi có người mang ống dẫn tiểu, có người mang tã, có người sống nhờ thức ăn chuyền thẳng vào bao tử, mà phải sống không chối từ, không thể dễ dàng chọn cái chết dù muốn chết.
Tôi cũng biết có trường hợp, anh nằm đây đã trên 10 năm, sau lần “tai biến.” Anh mở lớn đôi mắt nhìn tôi, anh nhớ tôi hay không, tôi không rõ, đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi, đầy những chịu đựng. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng thấy chị ngồi đó, theo anh suốt một cuộc hành trình dài lâu, mà vẫn như đi một mình. Nhan sắc chị đã tàn phai, thân gầy như xác ve, sức tàn, lực kiệt. Chỉ sợ một ngày nào đó, chị ra đi, bỏ anh lại cho ai? Rồi một ngày, nghe tin anh mất, buồn, nhưng mừng cho chị, từ nay được giải thoát. Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, nghe tin chị cũng theo anh. Chút dầu còn lại trong cây đèn nhỏ đã cạn!
Tuần rồi vào bệnh viện thăm một thằng bạn thời niên thiếu, cái thuở bạn bè mùa Hè nào cũng rong chơi, tinh nghịch mà vô tư, có đêm ngủ lại nhà nhau, mà bây giờ nó nằm đó, hôn mê. Cũng một thời hạnh phúc, cũng một thời đau khổ, cũng vật vã trong chiến tranh, cũng tủi nhục trong tù đày, giờ này đâu còn gì vui buồn mang theo nữa. Thôi ra đi bình yên!
Những người lính cũ dự định tổ chức họp khoá, thời còn sung mãn, một năm một lần, bây giờ ba năm chưa muốn gọi nhau. Ngày trước tập họp vài ba trăm có dư, nay là vài ba chục cũng khó kiếm. Trong điện thoại, ở xa, có bạn nói thều thào không ra hơi, có anh điếc ù phải đeo máy, có người kêu than đau chân đi không nổi, thì làm sao mà họp khoá, điểm danh với anh em được. Ở gần thì đau mắt, không lái xe được, cũng có nhớ bạn thương bè, nhưng sức đã tàn, lực đã kiệt, cũng chẳng còn vui thú gì những lúc gặp gỡ anh em. Thôi đành một tiếng “xin lỗi” là xong!
Trước đó, thăm một anh bạn cùng khoá nhà binh, tuy già yếu, đau ốm trên giường bệnh, nhưng thấy còn lạc quan vui tươi: “Thế nào tháng sau, họp khoá, tôi cũng đến! Lâu quá không gặp anh em!”
Lời hứa vui vẻ ấy không ngờ không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi “họp khoá” năm ba thằng với anh tại nhà quàn trong ngày tiễn đưa. Rõ ràng là anh có hẹn với chúng tôi là anh sẽ đến, nhưng ở một nơi khác.
Hôm nay họp khoá, chị đã trở thành bà quả phụ, nhận bó hoa từ anh em, nhắc lại như một lời chia buồn. Lần “điểm danh” này, vắng mặt quá nhiều anh em, trong đó có anh. Vắng mặt có lý do - Miễn tố! Quân số hôm nay đã hao hụt nhiều, phần lớn bất khiển dụng, hoặc được xếp loại 2, nhưng không bao giờ được bổ sung!
Chắc các bạn còn nhớ giờ điểm danh cuối cùng, hay là buổi chào cờ cuối cùng trong đơn vị vào cái Tháng Tư nghiệt ngã của đất nước, rồi anh em, mỗi người một nơi. Có anh em may mắn trôi giạt, sống sót đến xứ người, có người thất thân lâm cảnh tù đày. Đã có bao người chết trong trại tù hung hãn, bao nhiêu người chìm sâu xuống đáy biển oan khiên.
Bây giờ quê người lận đận, mà vẫn có đồng đội, rỗi công đi tìm người thất tán, tái cấu trúc, hay tái bố trí, gọi là đồng môn cùng quân trường, là khoá học, là binh chủng, là đơn vị! Họ gặp nhau, già yếu hơn xưa, tóc đã bạc phơ, câu chuyện ngày cũ, nhớ nhớ, quên quên. Họ gặp nhau mà nước mắt lưng tròng. Nhưng những lần tập họp thưa thớt dần, xa dần, mệt mỏi dần trong ngày tháng phai tàn.
Không phải là một lời nói bi quan, đây có thể là lần điểm danh cuối cùng. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cuộc đời còn lại chỉ có thể tính bằng giờ. Nhiều đồng đội đã bỏ anh em đi xa, nhiều người đã không đến. Con số người mất cũng lớn bằng người còn. Răng, tóc, trí nhớ cùng với bạn bè đã bỏ chúng ta ra đi biền biệt.
Tướng MacArthur đã để lại một câu nói để đời: “Old soldiers never die; they just fade away” (Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi).
Tôi thích và yêu kính những người lính chết trận. Tôi không thích những người lính sống cũng như chết, sống như cái bóng ma. Phải có sự khác biệt của một người lính hy sinh trên chiến địa ngày xưa và một người lính cũ chết trong nhà dưỡng lão. Không thể coi họ như nhau.
Sống mà phai nhạt dần, cho đến một ngày nào đó, không ai còn nhớ đến mình nữa, thì cuộc đời này buồn biết mấy! Mà thôi, chuyện gì rồi cũng qua, cái gì rồi cũng đến!
Huy Phương
Nguồn Người Việt




Các Số Báo Trước:


Văn Quang và Phạm Hậu, hai ‘linh hồn’ của Đài Quân ĐộiQuốc Dũng & Đằng-Giao
Phóng viên chiến trường: Mỗi cây bút là một sư đoànQuốc Dũng & Đằng-Giao
Đại Úy Quách Vĩnh Trường, người không đầu hàng nghịch cảnhĐằng-Giao/Người Việt
Chết trong tùPhan Việt Thủy
Người Lính VNCH & vành khăn tang Tổ QuốcHoàng Nhật Thơ
Mặt trận Tân Sơn Nhất ngày 29/4/1975Thành-Giang Texas USA
Chuyến ra khơi bi hùngĐiệp Mỹ Linh
Phi vụ cuối cùngCaptain Dương Văn Hoành
Gặp ngày hắc đạoDiều Hâu Nguyên Quân 225
Tạp ghi văn nghệ: Biến cố tháng Tư 1975 trong văn học Việt Nam hải ngoạiNguyễn Mạnh Trinh
Tình Nghĩa Anh emTôn Thất Đàn
Những chuyến bay đêmCaptain Dương Văn Hoành
Buồn đến kiếp nào nguôiKim Thanh
Trình Tổng Thống… tôi quyết định theo tình hình Mũ Xanh Phạm Vũ Bằng
Màu khăn quàng cổTrần Hoài Thư
Lê Thị Ý: Tác giả "Ngày mai đi nhận xác chồng"Đinh Quang Anh Thái
Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu Trung Tá Lữ Triệu Khanh
Cần tài liệu về quân nhân Hải Quân V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hoà đã không thất thủHuỳnh Minh Tú
Nhớ Vũ Cao Hiến với bản Quân trường xưaĐỗ Xuân Tê
Viễn ThámLâm Chương
Kẻ sát nhân Khên-Tông
Một phiên gác đêmPhương Lan
Xuân và người línhNguyễn Mạnh Trinh
Người đàn bà muốn lên đỉnh núiHoàng Nga
Xuân và tình người trên rừng thiêng núi thẳm Vũ Đình Lưu
Người tù binh trở vềTôn Thất Đàn
Một đời cơ khí phi hành (mevos flight engineer) Không Quân VNCHThành Giang
Nhớ Phạm HuấnNguyễn Mạnh Trinh
Chuyện buồn người vợ tùTrần Thanh Minh
Điểm hẹn Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa - Bên nhau đi nốt cuộc đời 2016-2017 Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh
Mùa Giáng Sinh đầu tiên trong tùNguyễn Mạnh Tiến
A Special Christmas MemoryPhan Đức Minh
Nỗi buồn Thương Phế Binh VNCH Cánh Dù lộng gió
Câu chuyện đồng nghiệp y khoaPhương Vũ Võ Tam Anh
Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Trong nghĩa trang buồnHuy Phương
Bay trên lửa đạnKiều Mỹ Duyên
Về một đại đội cũTrần Hoài Thư
"Ride the thunder" Chân dung những anh hùng trong cuộc chiến Việt NamNguyễn Mạnh Trinh
Tháng Ba Gãy Súng – Một Cao Xuân Huy khácNgô Thế Vinh
Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Hồ Phú Bông
Thương Phế Binh bây giờ ra sao? Năm xích lô
Câu chuyện một thương phế binhBích Nga
Tiền sát viên Không Quân ALO-ASOC-DLOHồng Điểu Jovi miệt dưới
Khí phách của người lính Nghĩa Quânnguoiviettudo
Sư Đoàn 9 Bộ Binh - Sư Đoàn Mũi Tên Thép Nguyễn Phùng
Xâm nhập bất thành của những Anh Hùng Biệt Kích DùPhan Lạc Phúc
Viết cho một người línhĐặng Chí Hùng
Đời sống người tù cải tạoBác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Tàn cơn binh lửaBắc Đẩu Võ Ý
Người Xưa ĐâuVõ Thị Vui
Tôi vào lính!Đặng Kim Hoa
Tình đồng đội Philato
Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa: Chuông gọi hồn ai?Sơn Tùng
Bắt đầu nếm mùi miền Bắc XHCNNguyễn Huy Hùng
Người bạn bên kia sôngNguyễn Phú Thanh Huyền
Cuộc đời cơ cực của người lính VNCH Lê Văn Minh Huỳnh Anh Tú
Kế hoạch Delta của Lực Lượng Đặc Biệt Việt-MỹVương Hồng Anh
Người nội trợ trong đơn vịBích Nga
Những lá thư một thời của người lính Trâu ĐiênNgọc Anh
Một chuyến đổ bộ vào Thanh HoáNguyễn Văn Kha
Áo liền quầnNguyễn Viết Tân.
Cái áo Jacket không quânVNAF Nguyễn Viết Tân
Lôi Hổ và chiến dịch đột kích sang Lào và Cam BốtVương Hồng Anh
Những người lính không có số quânTrung Tá Nguyễn Văn Vinh
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 1)Tác giả: Trung Kiên
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 2)Tác giả: Trung Kiên
Người bạn học và ông thầy cũPhạm Tín An Ninh
Sinh Nam tử BắcCá Kình Nguyễn Văn Tâm
Nhớ bạn, nhớ rừng, nhớ thời Lôi Hổ Hạ Sĩ Đoàn Văn Mạnh
Những chuyến đi định mệnh của Biệt HảiBiệt Hải Hồng Phúc
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Biệt Hải trên vùng biển bão tốPhạm Phong Dinh
May mà có emTường Lam
Cái bóng của vị thầy tuPhạm Tín An Ninh
Mảnh đạn B40 & phép nhiệm mầuNguyễn Trãi
Đêm Không Gian Hội Ngộ 2016x…
An phi không quânHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Buổi điểm danh cuối cùng Tạp ghi Huy Phương
Lời hứa bên sôngĐiệp Mỹ Linh
Nghiã Quânnguoiviettudo
Hồi Ký của vợ người tù “cải tạo”Mai Thy
Giấc Mộng Kinh Hoàng Phan Đức Minh
Nhớ Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6: Không Quên những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phan Đức Minh
Quốc Hận 30/4: nhớ lại những cái chết anh hùng Lê Ngọc Danh
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Vợ lính thời chinh chiến...Thôn Nữ Bàu Trai
Chén rượu đêm giao thừaTrần Ngọc Nguyên Vũ
Nguyên Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. Trần Văn ChơnĐiệp Mỹ Linh
Hai ngày gác ở Nghĩa Trang Quân ĐộiCao Bá Tuấn
Lễ phủ cờ, có nên hay không? Nếu có, thì phải nghiêm trang, đúng cách!Trực Ngôn
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Chuyện của một ngôi trườngHà Việt Hùng
Công tác dở dangTrần Thị Bích Nga
Nhớ Tháng Ba Phạm Gia Thụy
Tháng Tư Đen tưởng nhớ Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng TĐ 42/SĐ22BBThăng Long
Tháng Ba Chôn SúngMũ Xanh Lê Khắc Phước
Truyện ký: Đệ nhất phu nhânThái Quốc Mưu
Tưởng Niệm Tướng Trần Văn HaiNgười Lính Già
Có nhau suốt đờiĐặng Kim Hoa
Cái chết của cha tôi Trung Tá Nguyễn Văn Long Giao Chỉ, San Jose
Giờ phút hấp hối cuả thành phố Đà Nẵng: Cuối tháng 3-1975Phan Đức Minh
Tiếm mạo Quân phục của Quân Lực VNCHx…
Trận Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Sư Đoàn 23 Bộ Binh và cuộc quyết chiến Ban Mê Thuột tháng 3-1975 Phạm Phong Dinh
Tôi đi tùNguyễn Nhơn
Tết trong trại tùVăn Quang
Xuân đoàn tụNguyễn Nhơn
Đầu năm nói chuyện về việc định cư Thương Phế Binh VNCH Văn Quang Sàigòn
Tết và những mảnh đời TPB/VNCH bất hạnh Cánh Dù lộng gió
Chuyện người vợ tù cải tạoDương Thị Năng
Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh Phạm Tín An Ninh
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chuyến hải trình định mệnhLê Bá Thông
Dzuy Lynh, người lính chưa bao giờ giải ngũCát Linh
Thương phế binh VNCH khi cuộc chiến tànThanh Trúc
Trách chi người đem thân giúp nước...Giao Chi San Jose.
Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời Tạp ghi Huy Phương
Vị tướng già trong nhà dưỡng lãoHuy Phương
Mùa Noel năm ấyJo.Vĩnh
Đêm hoa đăng bi thảmMĐ Nguyễn Văn Lập
Thương Binh VNCHx…
Tư Lệnh SĐ22BB Lê Đức Đạt tự sát tại chiến hàoVương Hồng Anh
Đại Bàng tháng Tư gãy cánhNguyễn Văn Lập
Đại Đội 3-Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)
Tái chiếm đồi gióNguyễn Phúc Sông Hương
Củ khoai Yên BáyNguyễn Đình Phùng - Phạm Hữu Phước
Tấm ảnh hai người línhPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Phạm Huấn, tháng mười tưởng nhớNguyễn Mạnh Trinh
Đại bàng gẫy cánhPhương Toàn
Nguyễn-Hữu-Cầu, anh là ai?...TLC. Bùi-Trọng-Nghĩa K18/TĐ
Người thương binh Cali
Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến - Đêm Hạ Lào! Đêm sao dài quá!MX Trần-Vệ
Bông hồng kính tặng các chị… “vợ lính”CaptovanK19
Bên bờ vực thẳmHồ Hoàng Hạ
Hành quân biệt kíchVũ Đình Hiếu
Chuyến bay cuối cùngTrần Ngọc Toàn
Những mảnh đời H.O. trên đất MỹNhất Hướng Nguyễn Kim Anh
Nơi người lính đi qua Phan Nhật Nam
Cộng sản nằm vùngPhan Nhật Nam
2015, cố vấn Mỹ tái ngộ Trâu ĐiênPhilato
Biệt Đội Thiên Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo Tuyết Mai
Biệt Đội Thiên Nga Ngọc Lan
Câu chuyện về một nữ quân nhân, và những lời cám ơn chưa kịp nóiPhạm Tín An Ninh
Sáng 30/4/1975 những đơn vị nào tiến về giải cứu thủ đô Saigon bỏ ngỏ?William Hoang
Hồi ức Sàigòn thời lính tráng Nguyễn Ngọc Chính
Cuộc hội ngộ của 2 người Thương Binh Huỳnh Anh Tú
Anh em tôi Nguoiviettudo
Tháng Tám và những người yêu nướcHành Tư
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhPhan Lạc Tiếp
Người bạn của ba tôiNguyễn Thanh Huyền
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhHành Tư
Ngàn nén hương tưởng niệm vị tướng lãnh duy nhất của QLVNCH hy sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975x…
Những chiến sĩ nhảy toán - Nha Kỹ Thuật Lê văn Hậu
Giới truyền thông và tôi Mũ Đỏ Trương văn Út
Tiểu Đoàn 11 BĐQ tại căn cứ CharlieTư Kiên
Bạn Vànghoànglonghải
Đôi mắt thời chiếnThái Bảo
Anh hùng kẻ sĩ Nguyễn Ngọc Trụ: "Tôi không thích chế độ Cộng Sản" Tù Cựu (XM520)
Tù cải tạo trốn trại Nguyễn Hữu Chí
Hồi ức của một sĩ quan tùy viênBảo Định Giang
Tạp ghi văn nghệ: Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Nghĩ về một đội quân đã gác súngViệt Tâm
Câu chuyện về gia đình cố Đại tá Hồ Ngọc CẩnGiao Chỉ
Chết trận Đồng XoàiGiao Chỉ - San Jose
Thương phế binh VNCH - những mảnh đời bỏ lạiHà Vân
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhBùi Tiết Quý
Đời sống người tù "cải tạo" Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Nhớ Vũ Cao HiếnT.Vấn
Ngày buồn nhất đời tôiHuy Vũ
Những trận đánh cuối cùng và chân dung người lính VNCHSơn Tùng
Quãng đời tôi từ chiến tranh đến hoà bìnhLương Phạm
Nhớ nhàBác Sĩ Nguyễn Sơ Đông
Nữ phóng viên chiến trường Điệp Mỹ Linh 40 năm nhìn lạiPhạm Phú Nam
Đắp mộ cho anhKỳ Sơn
Tôi đi thăm chồng "cải tạo"Minh Hòa
Tháng Tư buồn năm ấy!Đỗ Dung
30 tháng 4Hồ Đình Nghiêm
Trận chiến hào hùng và cuối cùng của Thiếu Sinh Quân Vũng TàuNguyễn Lộc Yên
Thiếu tướng Nguyễn Khoa NamViệt Thái
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An LộcViệt Thái
Đi thăm Chồng Trần Văn Giang
Ban Mê Thuột thất thủ như thế nàoNguyễn Định
12 ngày đêm trận chiến Xuân LộcMặc Lâm
Chuẩn Tướng Quân Lực VNCH Lê Nguyên Vỹ, Vị Anh Hùng Tuẫn Tiết Ngày Quốc Hận 30-4-1975 x...
Đại Tá Hồ Ngọc CẩnNguyễn Văn Khậy
Nguyễn Ngọc Hạnh - Triển lãm lần cuối cùngGiao Chỉ SJ
Khi con người muốn làm con bòHoàng Lân
Anh hùng Hồ Ngọc CẩnViệt Thái
Trận đánh cuối cùng của một Đại úy Bộ binh VNCHHòa Ái
Những ngày cuối cùng của Huế và Đà NẵngLê Hùng
Từ chiến trường Khe Sanh đến chiến dịch Tết Mậu ThânPhan Đức Minh
Tấm Thẻ Bàix…
Tâm bút: Cố Hải-Quân Trung Tá Hồ Quang Minh, một sĩ quan can trường, đảm lược của các đơn vị tác chiến H.Q./ V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Hành trình HOMặc Lâm
Câu chuyện cảm động của một Đại Tá phi công Hoa Kỳ từng bị tù VCWilliam S. Reeder
Cho bác ăn thịt trâuBồ Tùng Ma
Mùa Xuân ở Suối MáuNguyễn Thiếu Nhẫn
Valentine trong di sản chiến tranhGiao chỉ San Jose
Tạp ghi văn nghệ: Thơ cảm khái cuối nămNguyễn Mạnh Trinh
Hành trình làm xin hưởng quyền lợi theo qui chế Quân Đội Đồng Minh của Hội Cựu Chiến Binh ÚcLương An Cảnh
Viết những dòng này…Trần Trung Tá
Một ngày Thủ Đức-Một đời Thủ ĐứcTrúc Giang MN
40 năm cuộc sống người thương phế binh VNCHGia Minh
Xuân về trên đầu súng! Lê Tường
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
Hải chiến Hoàng Sa dưới ký ức của một người tham chiếnMặc Lâm
Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại kể về hải chiến Hoàng Sa 1974 x…
Sau 39 năm, nhìn lạiNgô Đình Châu
Thằng nhỏ cầm cái lon…Minh Tạo
Phong Lôi HổĐiệp Mỹ Linh
Trần Công Minh, xạ thủ trực thăng chết trẻ Huy Phương
Giọt máu rơi của người lính chết trẻPhùng Annie Kim
Vĩnh Biệt Nguyễn SơnMũ Đỏ Út Bạch Lan
Biên trấnKiều Mỹ Duyên
Những ngày gãy vụn
Thanksgiving: Tạ ơn Chiến Sĩ Cộng HoàChu Tất Tiến
"Giã từ Sàigòn" Cao-Đắc Tuấn
Chiều dừng quân bên biên giớiKiều Mỹ Duyên
Chiều mưa trên đồi simKiều Mỹ Duyên
Người tù, chiếc lon gô và nhà kỷ luậtĐỗ Văn Phúc
Chuyện tình thời mất nướcLê Dủ Chân
Vui lây với ngày Hội Ngộ Quân Y Hải Quân toàn thế giới năm 2014Trúc Giang, MN
Người lính bảo vệ tự do - Trung tá Lê Văn Ngôn trấn thủ Tống Lê Chân như thế nào?Đổng Duy Hùng
Khóa 10, CSQG những ngày cuối cùngNguyễn Minh Hùng (K10)
Hồi ký: Kỷ niệm hội ngộ Khóa 6/68 SV/TB Thủ Đức, 2014 và những hoài niệm riêngĐiệp-Mỹ-Linh
Vài kỷ niệm với Công Ty Đại DươngChu Tất Tiến
Gương bất khuất trong tù Đỗ Văn Phúc
Đằng sau cuộc chiếnPhạm Tín An Ninh
Ngu như lợnCao Xuân Huy
Vợ LínhNguyễn thị Thêm
Trả lại sự thật cho chiến sử VNCH một chiến công bị quên lãngĐỗ Văn Phúc
Như Hoa Cỏ RụngAn Phu Vang
Tại sao không giữ lời hứa với Mẹ tôiNguyen Bao Tuan
Lịch sử bức tượng “Thương Tiếc” Nguyễn Ngọc Chính
Người lính tiên phongGiang Văn Nhân
Người lính làm thơ mang bút hiệu Trạch GầmĐinh Lâm Thanh
Xin Tri ÂnHùng Biên
Người lính già không bao giờ chếtLê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn
Tùy bút: Hai người em Sĩ Quan Thủ ĐứcĐiệp Mỹ Linh
Đồn Dak SeangTrường Sơn Lê-Xuân-Nhị
Ông giáo sư dạy SửVương Mộng Long
Đọc "Sau cơn binh lửa" của Song Vũ Nguyễn Kỳ Phong
Song Vũ, người vẫn chưa thể bước ra khỏi cuộc chiếnĐỗ Trường
Chuyện người lính trinh sátPhạm Tín An Ninh
Một kỷ niệm khó quên đêm 30/4/1975Tiêu Nhơn Lạc (MĐC67)
Phi vụ rọi ếchHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Ánh: Người chết ở giờ thứ 25Đông Phương
Tạp ghi văn nghệ: Nói chuyện với nhà văn Song VũNguyễn Mạnh Trinh
Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”theo VienDongDaily
Ghi tạc Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng HòaNguyễn Lộc Yên
Hào hoa là lính không quânHoàng Khởi Phong
Tôi không chết đâu (1975) Cao-Đắc Tuấn
Thắp nén hương lòngMi Sa
Tháng Tư Đen, đọc lại “Thép Đen” của Đặng Chí BìnhNhư Hoa
Hương Bồ KếtHạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Mật khu và Chiến Khux…
Vài mẩu chuyện về Tướng Cao Văn Viên Người Lính Kèn (SA)
Hành trình HOMặc Lâm
30 tháng 04 - Đập cổ kính ra tìm lấy bóng... Nguoiduatin
Trận Chiến Đấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4, 1975CTSQ Nguyễn Anh Dũng và CTSQ Lâm A Sáng
15 ngày tử thủ Phan RangPhạm-Ngọc-Sang
Đem quá khứ, gửi tương laiGiao Chỉ San Jose
Bia đá đợi chờ - 39 năm sauGiao Chỉ SJ
30-4: Ngày tháng sau cùng, anh ở đâu?Captovan
Tấm Thẻ Bài Trần Thiện Phi Hùng
Lữ Đoàn 147: Từ một cuộc di tản chiến thuật 1975Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
Tưởng niệm vị tướng của mùa hè đỏ lửa: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007) Nguyễn Kỳ Phong
Thương tiếc Tinh Long 7 PĐ 821 bị bắn rớt trên không phận TSN sáng sớm ngày 29/4/1975!Thái Ngùng
Buổi dạy Việt Văn cuối cùngVương mộng Long
Tìm thấy 21 hài cốt quân nhân VNCH tại Thuận An, HuếHuy Phương
Trận chiến sau cùng của Tiểu Đoàn 9 Thuỷ Quân Lục ChiếnTân An Đoàn Văn Tịnh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Nhân ngày giỗ đầu của nhà truyền thông Vũ Quang NinhNguyễn Mạnh Trinh
Không một lời than thởGiao Chỉ, San Jose.
Tháng Ba không đềN.C.M
Tết lính nhìn lạiPhương Toàn
Con gái của người ta Trần Thiện Phi Hùng
Ba của người TaCon Gái của Trần Thiện Phi Hùng
Một chuyện tình không tên, có thật của một cựu phi công thuộc KQ/QL/VNCHPhạm Tín An Ninh
Thời thế, thiện, ác, và... con người Vương Mộng Long- K20
Phóng viên chiến trường Nguyễn CầuGiao Chỉ, San Jose
Nhớ nhàBác sĩ Nguyễn Sơ Đông
Đón xuân nầy nhớ xuân xưaHHS.Delta81BCND
Lễ hạ kỳ ngoài khơi Subic Bay 12 giờ trưa 7 tháng 5-1975Giao Chỉ, San Jose
Chuyện kể trong tù nhân một dịp Tết: Kho vàng của thượng tướng CSVN Chu Văn TấnVõ Đại Tôn
Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế LânVăn Quang, Sàigòn
Tâm sự 40 năm với 4 Chiến hữu Người nhái đã hy sinh vì Hoàng Sa Đặng Đình Hiền
Nỗi uất hận của vị tướng thất trậnTopa
Một câu chuyện buồn 74 Nhóm Hành Khất
Kẻ sống sót trong trận Hải chiến Hoàng Sa Nhóm Hành Khất
Bút ký: Một cái Tết khó quênPhan Đức Minh
Lá thư Giáng Sinh không gởiĐinh văn Tiến Hùng
A Special Christmas Memory Phan Đức Minh
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Nghệ thuật bỏ đói Huy Phương
Tấm thẻ bàiThanh Vân
Anh Linh Tử Sĩ VNCH còn mãi mãiNguyễn Thị Trúc Mây
Nhớ về người Tư Lệnh cũ Đỗ Văn Phúc
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong những ngày cuối cùng tại miền Nam VNMũ Đỏ Nguyễn Văn Đỉnh
Phi vụ tử thầnLý Tống
Ngọn lửa hình như chưa nguội trong trái tim của người lính năm xưa Huy Phương
Trò chuyện với “một người lính viết văn”: Phan Nhật NamHoàng Lan Chi
Tiểu sử ngành Quân Nhạc QLVNCHx…
Người vợ lính ở Thủ ĐứcGiao Chỉ
Một chuyến điĐỗ Phương Khanh
Những con cào cào xanhDương Thịnh
Vượt tuyến Mỹ Chánh Song Chùy 11