HOME
Tin Tức Trong Tuần
Sao phải thay đổi chữ viết tiếng Việt?



GS Nam Kym



Thay đổi một hệ thống chữ viết không phải là một việc làm dễ dàng và đơn giản mà cần phải tham khảo với mọi người trong nước nhất là các chuyên gia về ngôn ngữ học.Một hệ thống chữ viết tân tiến theo mẫu tự Latin (Latin Alphabets) mà chúng ta đã dùng cả trăm năm, tại sao lại phải đổi?
Theo ông Đá xương Rồng"Phe thân Trung Quốc đang tung ra con bài Ngô Như Bình để tuyên truyền cho đề án cải cách Tiếng Việt của ông Bùi Hiền! Ông Ngô Như Bình được báo chí thân Trung Quốc giới thiệu là giáo sư của trường Đại học Harvard. Nghe giới thiệu là giáo sư của trường Đại học Harvard.. Nhưng thực chất trình độ hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt của ông Ngô Như Bình thì chỉ là “ cái thùng rỗng kêu to”, có tư tưởng lệ thuộc Trung Quốc...Theo lý lịch thì ông Ngô Như Bình học khoa Nga ngữ tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 1973. Năm 1982 thì ông Ngô Như Bình lấy bằng tiến sỹ tại Liên Xô và dạy Tiếng Việt tại trường Đại học Lomonosov. Năm 1992 thì ông đến Mỹ để dạy Tiếng Việt tại trường Đại học Harvard.Từ ông Bùi Hiền cho đến ông Ngô Như Bình đều là những người học Tiếng Nga và Tiếng Trung." Họ không có sự hiểu biết gì về ngôn ngữ học.

Linguistics: Ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học là một ngành học nghiên cứu về cấu trúc của một ngôn ngữ như văn phạm, cú pháp và âm tiết.(Linguistics is the study of language and its structure, including the study of grammar, syntax, and phonetics.)
Các ngành của ngôn ngữ học như: Ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics), Khoa nghiên cứu về ngôn ngữ địa phương (dialectology), Ngôn ngữ tâm lý học. (psycholinguistics,)Ngôn ngữ học máy tính (computational linguistics), Ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics), và Ngôn ngữ học cấu trúc văn phạm(structural linguistics). (Linguistics is the study of language and its structure, including the study of grammar, syntax, and phonetics. Branches of linguistics include sociolinguistics, dialectology, psycholinguistics, computational linguistics, comparative linguistics, and structural linguistics.)

Vietnamese Writing System: Hệ thống chữ viết trong tiếng Việt
Before the 13th century:Trước thế kỷ thứ 13
Chúng ta chỉ có tiếng nói mà không có chữ viết nên khi người Tàu đô hộ nhiều thế kỷ mãi đến
thế kỷ 15 nên chúng ta phải mượn chữ Hán để viết gọi là Chữ Nho
The Vietnamese Language then only existed in the spoken form. The writing was classical Chinese, whose indigenous name was Chữ Nho, since Vietnam was many times under Chinese domination to the 15th century.
From the 13th to the 17th century:Từ thế kỷ 13 đến 17
Việc sáng tạo chữ nôm,phần lớn dựa vào các mẫu tự của chữ Hán nhưng theo các thanh, âm điệu của tiếng nói của người Vịệt.Đây cũng là một nét đặc thù của tiếng Việt người Tàu đọc chữ nôm nhưng không hiểu gì cả
Invention of Chữ Nôm, which is based largely on Chinese characters but with phonetic elements to make it more suitable to the tones of the Vietnamese Language at that current stage (in spoken form). It was also interesting that Chữ Nôm was actually unintelligible to the Chinese people.
From the 17th century to present: Từ thế kỷ 17 đến ngày nay.
Các nhà truyền giáo Tây phương đã thành công tạo nên chữ viết cho tiếng Việt dựa vào mẫu tự Latin và được người Việt coi là chữ Quốc Ngữ.Thành quả đó cũng là công đóng góp của nhà truyền giáo Pháp Alexandre de Rhodes và những nhà truyền giáo khác
The collective effort of Catholic missionaries to romanize Vietnamese Language has successfully produced the Romanized writing system called Quốc Ngữ,(National Language). The achievement was commonly attributed to the French missionary Alexandre de Rhodes and other missionaries

Ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics)

Kym Tran chi so sánh tổng quát Tiếng Anh và tiếng Việt trong phần 1-Ngữ âm (phormology), 2-Từ vựng(vocabulary) 3- ngữ pháp (morpho-syntax)
A-Phormology= Ngữ âm
- Tiếng Việt có 3 âm vị (phonemes): 1-Thanh điêu 2- phụ âm 3- nguyên âm
Trong tiếng Việt, thanh điệu đó làm thay đổi nghĩa của một chữ.
Vietnamese has three types of phonemes: 1-tones (sometimes referred to as tonemes), 2- consonants, 3- vowels.
Tiếng Anh chỉ có phụ âm (consonants) và nguyên âm (vowels)không có cung thanh điệu như tiếng Việt (huyền, sắc, hỏi, ngã v.v...)English phonemes consist of consonants and vowels; it does not have lexical tones
*Cung thanh điệu lên xuống trong tiếng việt làm thay đổi nghĩa của một chữ gọi là Lexical tone. (Lexical tone is the distinctive pitch level carried by the syllable of a word which is an essential feature of the meaning of that word).
Ex: không dấu: ma= ghost, thêm dấu sắc đọc lên giọng đổi nghĩa chữ ma thanh má= mom. Đây là nét đặc thù của tiếng Việt mà chúng ta phải hãnh diện vì tiếng Anh không có.

TONES=, thanh điệu

Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu các thanh điệu (tones)và sự kết hợp các âm nầy để tạo thành vần(syllable)
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu(tonal language), mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang một thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được biểu thị bằng các dấu thanh, nên người ta quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu

Tiếng Việt có 6 dấu.. There are six tones in Vietnamese

1- Level tone: không dấu ex: ma (ghost); 2-Rising tone: dấu sắc ex: (mom)
3-Falling tone: dấu huyền ex: mà(but) 4-Falling rising tone: dấu hỏi ex: mả (grave)
5-High rising tone: dấu ngã ex: mã (horse) 6-Low constricted tone: dấu nặng ex: mạ (young rice plant)
Những nguyên âm, âm vị tiếng Việt tương đương với tiếng Anh.
Vowel Phoneme English equivalent sounds
a /aː/ fat
ă /a/ cut
â /ɜ/ person
e /ɛ/ pet
ê /e/ may
i or y /i/ bee
o /ɔ / saw
ô /o / spoke
ơ /ə:/ hurt
u /u/ boo
ư /ɨ/ good
Tiếng Việt có 8 âm cuối trong đó có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/. (semi-vowels)

Chúng ta cần biết:

1- HOMOPHONE: la một chữ cùng âm với một chữ khác nhưng viết khác và ý nghĩa khác nhau, (A homophone is a word that has the same sound as another word but is spelled differently and has a different meaning)
.ex: see= thấy; sea= biễn;
Tiếng Việt: rễ (cây)= root; rể (con rể)= son in law; hoặc: to, two, too: (đọc cùng âm nhưng viết khác, nghĩa khác.)

2-- HOMOGRAPH: Hai chữ viết giống nhau nhưng khác nghĩa và phát âm cũng khác
(Two words that are spelled the same but have different meanings and are pronounced differently)
Ex: sow is pronounced [sou }, (verb) - to plant seed =lụi hột giống trồng trọt
sow is pronounced [sau], (noun) - female pig = heo cái

3- HOMONYM:là chữ phát âm giống 1 chữ khác nhưng có nghĩa khác, không cần phải viết giống
A word pronounced the same as another but differing in meaning, whether spelled the same way or not,
ex: "Write”[rait] = viết và “right” [rait] = phải, đúng
Cong= curve (đường cong); Công= public (công chúng)
đường 'road' appears in đường xá ('road'),
đường 'sugar' appears in đường muối ('sugar and salt'),
three consonants d /z/, gi /ɟ/ and r /ʐ/ in three syllables da, gia and ra.
Ex: da in da thịt ('flesh')
gia in gia đình ('family')
Hai từ “ da” và “ gia”, xét trên phương diện ngữ âm thì chúng phát âm giống nhau, cùng ghi âm đầu /z/, khi phát âm thì không phân biệt với nhau được, nhưng khi viết thì thể hiện bằng hai hình thức kí hiệu khác nhau: “d” và “gi”
Ex:dàn/giàn (mướp, (cơn) dông/giông, (thư) dãn/giãn, (già) dặn/giặn…
Có những phụ âm đầu, như âm /k/ có lúc viết là “k”, có lúc viết là “c”
ex; Tiếng Anh Catherine,Katherine.
Hoặc như âm vị /γ/ tùy từng trường hợp có thể viết bằng hai cách là “g”, “gh”. Hoặc như âm vị /ŋ/ có lúc “ng”, có lúc “ngh” ex: ngu (stupid) nghe (listen)

Miêu tả phụ âm trong tiếng Anh và tiếng Việt..

Trong tiếng Anh, có 24 phụ âm là: /p, b, m, f, v, t, d, k, g, l, s, z, h, n, j, r, w, ŋ, θ, t∫, dЗ, З, ∫, ð/ được phân loại theo bảng sau:
Vị trí Phương thức Môi-môi (bilabia) Môi-răng (labiodental) Răng (dental) Lợi Alveolar) Ngạc-lợi (palatoalveolar) Ngạc (palatal) Mạc (Velar) Họng (glottal) Tắc (plosive) p, b t, d k, g Xát (fricative) θ, ð s, z ∫, ʒ h Tắc-xát (affricative) t∫, dʒ Mũi (nasal) m n ŋ Bên (lateral) l Gần đúng (approximation) w r J
Trong tiếng Việt có tất cả 30 phụ âm gồm 22 phụ âm đầu: /b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ,/ và 8 phụ âm cuối: /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/. (semi-vowels).
Số lượng phụ âm tương đối giống nhau Ví dụ: /p/, /b/, /m/, /n/, v...v... Đa số phụ âm của 2 ngôn ngữ đều trùng với chữ viết Ví dụ: Tiếng Việt: b, m, v, t n, l, h Tiếng Anh: p, t, f, s, h, m, b, g, v, l, r, w
Vị trí của phụ âm trong âm tiết: trong tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm giống nhau, như: có những âm đầu và âm cuối trong tiếng Việt cũng là âm đầu và âm cuối trong tiếng Anh, tuy nhiên các phụ âm trong tiếng Anh có thể đứng ở đầu, giữa hay cuối âm tiết. Ví dụ: s (sea - was), r (rose - her), d (drink - good), k (kind - breakfast), w (with - yellow), n (national - chicken), l (like - beautiful),
Tiếng Việt Phụ âm đứng đầu âm tiết như: b, th, ph, v, đ, d, g, l, tr, q, k, s, r, kh, h, x, p, m, n,….. Ví dụ: bảo đảm, thương yêu, xuất phát, nhà cửa, di tích, hàng hóa, việc làm, lao động, chiến sĩ, phương pháp, giáo dục, rảnh rỗi, khuya khoắc, khúc khích…
Trong tiếng Việt còn có những phụ âm đứng cuối âm tiết như: -p, -t, -ch, - c, -m, -n, -nh, -ng… Ví dụ: nhường nhịn, chúc tụng, anh em, trấn an, lớp học, hớt hải…
Trong lúc phụ âm [k, g] trong tiếng Anh là TẮC MẠC thì [k] trong tiếng Việt là TẮC GỐC LƯỠI còn [ɣ] lại XÁT GỐC LƯỠI. Ví dụ: Trong tiếng Anh âm "g" là phụ âm tắc mạc như ở các từ “given, gold, gate, girl, get”. Trong tiếng Việt, âm "γ" là phụ âm xát gốc lưỡi như ở các từ “ghế, ghi, ghép, gom góp”. Tiếng Anh cũng có những âm mà tiếng Việt không có:[w], [j].
- DIGRAPH: Phụ âm kép là 2 mẫu tự ghép thành một âm.A digraph is two letters together that make just one sound.
1-Consonant digraphs (phụ âm đôi): ch, sh, and ck.
2- Vowel digraphs (nguyên âm đôi): ea in teach, aw in paw, eo in people (English)
ex:Tieng viet: coi, hoa, toa v.v...
DIPHTHONGS: Nhị trùng âm là một nguyên âm khi phát âm lưỡi lướt từ một nguyên âm nầy qua một nguyên âm khác trong cùng một vần
A diphthong is a vowel sound produced when the tongue moves or glides from one vowel sound toward another vowel sound in the same syllable.
Tiếng Anh: Ex: ear [ɪə], hair [heə]; fire[faiə]
Diphthongs in Vietnamese: Nhị trùng âm tiếng Việt
Ex: /ie/ biển =sea, /uo/ trong cuốn=roll va /ɯɤ/ trong ướt=wet
Trong tiếng Việt,"ng" đứng đầu hay cuối 1 chữ. -In Vietnamese: “ng” is found in the initial position ex:” ngày = day, ngủ = to sleep; ngông (ngông cuồng), crazy
-Trong tiếng Anh,”ng” ở cuối 1 chữ -In English, ng is found in final position
ex: song= bài hát
hoặc "ng' ở giữa như“ny”in “Kenya”(tương tự tiếng Spanish ñ).
Tiếng Việt“nh” đứng đầu chữ ex: nhỏ=“small”,không có trong tiếng Anh

Bây giờ theo tiếng Việt đổi mới:

Nếu đề xuất của nhóm nầy được áp dụng, chúng ta phải bỏ 3 phụ âm được ghi từ trước đến nay là TR, S, R, và như vậy sẽ không phân biệt trà với chà, sa với xa, ra với da nữa.
1. Lấy chữ D thay cho chữ Đ. Ex: Đâu (ở đâu); Dâu (trái dâu, cô dâu v.v…)
Đ thành D vậy 2 chữ đều đọc là dâu à???
2- Thêm J, W, Z là những mẫu tự trong Anh,Phap không cần thiết trong cách viết của tiếng Việt
J và W là hai bán nguyên âm /-w, -j/. (semi-vowels)= /w/ and /j/ are semi-vowels.
Phụ âm "th" họ lại đổi thành bán nguyên âm "w"(semi-vowel)tức là W thay cho TH
Ví dụ: chữ “Theo” đọc thành “Weo “,
3- Chữ C thay cho chữ Tr, Ch.
Ex: Trục trặc = Cụk Cặk, Nắm Chặt = Nắm Cặt. (tuc, xin loi)
4- - Chữ Q thay cho chữ Ng, Ngh. Ex: Ex: Chung truong = Cuq Cuoq
Ex; - TIẾNG VIỆT - TIEQ VIỆT...
5- Chữ Z thay chữ D và Gi và R ex: - GIÁO DỤC - ZÁO ZỤC
Vietnamese Language Dialects= Ngôn ngữ địa phương trong tiếng Việt
There are 3 main dialects of Vietnamese Language: Có 3 vùng tiêu biểu cho 3 miền
• the Northern Dialect (represented by Hanoi, the capital) = tiếng địa phương miền Bắc (tiêu biểu Ha noi)
• the Central Dialect (represented by Hue, the former capital during feudalism) = tiếng địa phương miền Trung (tiêu biểu Cố đô Huế)
• the Southern Dialect (represented by Saigon, the most dynamic city in SouthVietnam)=tiếng địa phương miền Nam (tiêu biểu Saigon, thủ đô ánh sáng của miền Nam)
Tuy giọng nói 3 miền khác nhưng họ hiểu lẫn nhau.Chỉ khác nhau về phát âm,vài mẫu tự và một vài từ dùng khác nhau.Nhưng trong tiếng Hoa, tiếng Phổ thông và tiếng Quảng Đông khác và
không hiểu lẫn nhau.
These 3 dialects are mutually intelligible by all Vietnamese. They differ mainly in pronunciation of certain alphabet letters and in a few word usages. But Chinese dialects such as Mandarin and Cantonese are different and unintelligible.

B-Vocabulary: To Create Compound words=Ghép từ kép
Ghép 2 chữ với nhau để tạo nên chữ mới.Trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt,
ta ghép các tiếng danh từ, tĩnh từ, động từ để tạo thành từ mới.
(Combining two or more words together to create a new word Both languages combine nouns, verbs, and adjectives to create compound words.
Ex: armchair=arm+chair, beehive = bee + hive
không quân= không + quân (air force)
Ghép 2 chữ với nhau để chữ nầy thêm rõ nghĩa cho chữ kia
ex 1: bàn =table; ghế =chair; Ghép 2 chữ thành: bàn ghế =furniture.
2-con =child; cháu =grandchild” Ghép 2 chữ thành:con cháu=offspring
Ngoài ra ta có thế gấp đôi (reduplication) từ đó, tức là lập lại từ đó
(Another way a word can be compounded is through reduplication).
Trong Anh ngữ, một từ lập lại để chỉ tiếng động hay âm thanh mà thôi.
In English Reduplication is primarily used in words that reflect sounds or noises
ex: click clack= tiếng kêu click clack
Vietnamese: lách cách (tiếng kêu)
Trong trường hợp ghép 2 tiếng tĩnh từ có cùng 1 chữ viết ám chỉ phẩm chất giãm hơn (lesser degree of a quality) In the case of adjectives, reduplication can imply a lesser degree of a quality.
Ex: green =xanh,; xanh xanh: không hoàn toàn xanh
Trong tiếng Việt ta dùng" con" để chỉ những gì năng động(animated).”Cai” cho nghững vật bất năng động (unanimated) ma tiếng Anh không có.
The two most common classifiers in Vietnamese indicate animacy(not in English)
“Con”: is used for a wide range of animate objects and “cai “ is used for unanimated things.
ex: con chó (dog); con mèo (cat); cái bàn(table); cái ly= (glass) etc...
-Prefixes and suffixes=Tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ
a-Prefix: Tiếp đầu ngữ là một chữ hay mẫu tự đặt trước 1 chữ khác.Prefix is a word or letter preceded another word
ex: happy=vui vẻ là chữ gốc (root); unhappy= khong vui, un là prefix; like=thích; dislike=không thích (dis= prefix; like=root chữ gốc) etc.
semi= bán ex: semi-circular=bán nguyệt; semi-automatic=bán tự động...
b- Suffix: Tiếp vĩ ngữ là một chữ hay mẫu tự thêm sau chử gốc.Suffix is a word at the end of a word to form a deviration ((e.g. -ation, -fy, -ing, -itis)
ex: luck(noun) thêm y = lucky (adjective)
suffix: hoá (... ization) ex: modern=tối tân, modernization= tối tân hoá; global=hoàn cầu; globalization
=hoàn cầu hoá

C-Morpho-Syntax(
grammatical structures= cấu trúc văn phạm)
Ngoài phần thứ tự chữ tổng quát Chủ từ+ Động từ+ túc từ,trong Anh ngữ, tĩnh từ đứng trước danh từ; trong tiếng Việt,tĩnh từ thường đứng sau danh từ để miêu tả danh từ đó.
Apart from a general word order of subject-verb-object (S+V+O),in English, adjectives precede nouns; in Vietnamese adjectives follow the nouns they describe.
Ex: I bought a new car =Toi mua 1 xe hoi moi
tieng Anh Adj + Noun; tiếng Việt: Noun + Adj (xe hơi mới)
-Interrogative words: Nghi vấn từ
- Where: đâu, ở đâu? In English ở đầu câu; inVietnamese: ở cuối câu
ex: Where are you going?=Anh đi đâu?
-What: gì, làm gì? English đầu câu, Vietnamese cuối câu
ex: What are you doing? Anh đang làm gì?
What did you say? Anh nói gì?
Who =Ai? English- Vietnamese đều ở đầu câu
ex: Who wants to go?=Ai muốn đi?
Nhưng khi dùng với giới từ (with, to)thì chữ "ai" trong tiếng Việt đặt sau tiếng giới từ và ở cuối câu.
Ex: Who(whom)do you want to go with? Anh muốn đi với ai?
Who(whom)do you want to talk to? muốn đi nói với ai?

CÁC THỜI= TENSES

Trong tiếng Việt rất đơn giản, ta dùng trước động từ chữ "đã" cho quá khứ, "đang"cho hiện tại, “sẽ” cho tương lai
In Vietnamese tense is very simple and represented with words that precede the verb such as “ đã,” “ đang,” “ sẽ “to indicate past, present, and future.
Ex: I went to Vietnam 2 years ago= Tôi đã đi VN cách đây 2 năm
I will go to America next year= năm tới tôi sẽ đi Mỹ etc...
Danh từ trong tiếng Việt không thay đổi ở số ít hay số nhiều. Vietnamese nouns do not change to a plural form
ex: Một quyển sách= 2 quyển sách (danh từ sách không thay đổi); one book, two books(English requires the use of the plural marker s or -es “boxes= tiếng Anh thêm"s" hoặc "es")
Nhưng tiếng Việt dùng tĩnh từ chỉ số lượng trước danh từ như hai,ba v.v...
But in Vietnamese, a number is indicated by the addition of numerals.
Là nhà ngôn ngữ học (linguist), tôi đã so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Anh để cho thấy những điểm tương đồng và dị biệt giữa 2 ngôn ngữ.Những nét đặc thù của tiếng Việt mà chúng ta phải hãnh diện. Thay đồi chữ viết là thay đồi tư duy nhận thức của cả 1 dân tộc khi viết một đằngđọc 1 ngã, hại não, chưa kể là 1 sự thay đổi lớn lao hệ thống giáo dục,chánh trị khoa học kỹ thuật rồi toàn dân trở thành mù chữ vì không hiểu được các chữ viết mới nầy.Sự thay đổi đó không tiết kiệm giấy, thời gian như ông Bùi Hiền nói mà ngược lại làm cản trở sự tiến hoá, sụp đổ nền văn hoá Việt mà ông cha chúng ta đã đỗ biết bao nhiêu xương trắng máu đào trong tiến trình dựng nước và giữ nước.
Bà TS Đoàn Hương nên thận trọng lời nói của mình không nên dùng những lời nói xất xược, khinh khi, miệt thị quần chúng
1- Bà nói: ""một đám quần chúng vô văn hoá không hiểu gì cả ào ào vào ném đá “.. Chính lời nói của bà đã chứng tỏ bà là kẻ thiếu văn hoá.
2-Bà còn nói” Đây là công trình khoa học. Phải có những nhà khoa học định đoạt”. Tiến sĩ Khoa Ngữ văn mà bà không phân biệt được nhiệm vụ của 1 nhà khoa học và nhà ngôn ngữ học sao??Khi bà nói vấn đề ngôn ngữ để nhà khoa học định đoạt. Họ biết gì về ngôn ngữ mà định đoạt? phài là
nhà ngôn ngữ học, những người chuyên môn về ngôn ngữ
-Khoa học gia là người học và hiểu biết chuyên môn về khoa học
(Scientist: a person who is studying or has expert knowledge of sciences).
- Nhà Ngôn ngữ học là người có khả năng chuyên môn về ngôn ngữ
(Linguist: is a specialist in linguistics).
GS Nam Kym (Kym Tran), MA, PhD in linguistics.