NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao

Tuổi Trẻ Về Nguồn

 

 

Động Đình Hồ - Cội nguồn của tộc Việt

Trần Thị Vĩnh Tường

(Được khơi nguồn nhân nghe hoà thượng Thích Chơn Thành nhắc “Tổ quốc chúng ta từ Động Đình Hồ” trong đạo từ phát thanh trên đài Little Saigon Radio vào tháng 5.2007).

Hồ Động Đình ở đâu?
Ở miền Nam sông Dương Tử, hồ Động Đình họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ, làm tăng diện tích hồ từ 2,800 km² đến 20,000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quý hiếm tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái, liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam.


Hồ Động Đình (tài liệu từ Atlas)

Từ miền Hoa Bắc sa mạc, người thuộc chủng Hoa Hạ ào ào lưng ngựa triền miên chinh phục hết miền đất này đến miền đất khác. Người Hoa Bắc nổi tiếng với nhiều lý thuyết gia, nhưng văn chương rất khô khan. Trái lại, miền Nam sông Dương Tử, nhất là miệt Động Đình sông nước mây khói mơ màng, nổi tiếng nhất với hai con sông Tiêu và Tương chảy vào lòng hồ, đã là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ văn, hội hoạ, âm nhạc… “Ai có về bên bến sông Tương/ Nhắn người duyên dáng tôi thương/ Bao ngày ôm mối tơ vương…” của nhạc sĩ Thông Đạt, hay Kiều của Nguyễn Du, “Sông Tương một giải nông sờ/ Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia” cũng là sông Tương này.
Chữ Tương, tiếng Hẹ (Hakka) phát âm là “siong”, tiếng Quảng Đông là “seong”, tiếng quan thoại là “xiāng”. Trong Chinh phụ ngâm, những vần thơ hết sức đẹp, cũng lấy cảnh sông nước Hồ Động Đình:
"Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng…"


Hình chụp Tây Động Đình Hồ (tư liệu của hoà thượng Thích Chơn Thành, chùa Liên Hoa, Orange County, California).

Hồ Động Đình trong truyền thuyết Hồng Bàng
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải….”
Nước Sở có từ bao giờ?
Khi truyền thuyết xuất hiện trong Lĩnh Nam chích quái thế kỷ 14, tất cả những địa danh, nhân danh từ Đế Minh, Lộc Tục, Xích Quỷ… đến Hồ Tôn, Hồ Bắc, Hồ Nam, Động Đình Hồ… là tên thuần Hán. Tất cả nằm tại địa bàn nước Sở, tức khu vực Động Đình Hồ. Vương đầu tiên của người Việt là Kinh Dương Vương, có thể hiểu đó là “vương của châu Kinh và châu Dương”?
Đất Kinh, mang tên loại cỏ Kinh mọc thành bụi cao, đa số dân thuộc chi Âu, đại diện là Âu Cơ, đọc theo phát âm Mường và Quảng Đông là Ngu Kơ, ưa sống miền núi rừng. Bây giờ, địa bàn của châu Kinh là tỉnh Hồ Bắc. Đất Dương có dân thuộc chi Lạc, đại diện là Lạc Long Quân, ưa sống miền biển. Địa bàn châu Dương gồm các tỉnh ven biển: Giang Tây, An Huy, Chiết Giang, và Giang Tô. Cả hai đại chi Âu và Lạc, thuộc chủng Yueh/Việt. Mỗi đại chi lại có hàng trăm tiểu chi. Khoa nhân chủng học ngày nay gọi nhóm này là Austro-Asiatic = người châu Á phương Nam, khác với Mongoloid, người châu Á phương Bắc, chính là chủng Hoa Hạ.
Theo chính sử Trung Hoa, Châu Thành Vương (1042-1021 TCN) phong cho Hùng Dịch tước tử ở nước Sở, còn gọi là nước Kinh, để cai trị và ngăn chặn quấy phá của dân “man di” Yueh/Việt ở địa phương. Đây là lần đầu tiên người Trung Hoa thiết lập chế độ phong kiến (phong đất cho thuộc hạ, họ hàng). Đây cũng là lần đầu tiên người Hoa Bắc chính thức chinh phục miền đất phía Nam sông Dương Tử.
Trong 800 năm, từ đầu thế kỷ 11 TCN đến khi bị Tần Thuỷ Hoàng diệt năm 223 TCN, nhà họ Hùng đưa nước Sở từ một miền phên dậu thành một chư hầu hùng mạnh có lúc lấn cả thiên tử nhà Châu, và suýt trở thành “thủ lãnh đại ca” của Xuân Thu Ngũ Bá.
Năm 740-689 TCN, khoảng đầu thời Xuân Thu, nhà Châu bắt đầu suy, nước Sở cường thịnh dù vẫn bị người Hoa Hạ chế diễu “Vua Sở như con khỉ biết đội mũ”. Lãnh tụ của Sở là Hùng Thông tự ý xưng Vương, tức Sở Vũ Vương. Từ đó trở đi, tiếp theo hàng chục đời, lãnh tụ nước Sở bao giờ cũng có họ Hùng và tước Vương. Hùng Dịch, Hùng Thông, Hùng Sì, Hùng Cừ… chữ Hùng 雄 viết y hệt như trong “Hùng Vương” của Việt Nam.
Sau khi diệt các nước Việt nho nhỏ chung quanh, năm 333 TCN nước Sở thôn tính thêm hai nước Việt rất lớn cũng thuộc chi Lạc ở ven biển: nước Ngô Việt (Câu Tiễn) và U Việt (Phù Sai). Tuy rất văn minh, đã đúc thuyền đồng, trống đồng, luyện thép (như hai nhà luyện kiếm nổi tiếng là Mạc Tà và Can Tương), nhưng chỉ lo đánh đấm và trả thù nhau nên bị Sở diệt.
“Quốc tịch” dân Sở
Đại thần/thuộc hạ của Châu Thành Vương đều là người chủng Hoa Hạ. Hai người Sở nổi tiếng, thi sĩ Khuất Nguyên, tác giả Ly Tao, và Hạng Võ, mà người Việt giới bình dân đều rành nhờ… tuồng cải lương Hồ Quảng Hạng Võ biệt Ngu Cơ - “Tấm thân lấp biển vá trời/ Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang”. Tây Sở Bá Vương Hạng Võ người chủng Hoa Hạ, Ngu Cơ chủng Việt, chi Âu. Không riêng gì Sở, dân “man di” miệt Nam Dương Tử đa số là Yueh/Việt. Nên khi hai nước Trịnh, nước Vệ có chiến tranh, quân dân hai bên leo lên mặt thành nói chuyện thả dàn, không cần thông dịch viên toà án. Sử không thèm ghi xem bọn dân đen nói chuyện chi. Mời nhau ăn một miếng trầu, rủ rê xuống ruộng dâu [1], đánh trống đồng hay hát bài “Việt nhân ca” [2].
Chi tiết trên chứng tỏ đánh nhau là chuyện của lãnh chúa Hoa Hạ, còn dân Việt tỉnh bơ ví dầu nói chuyện trời trăng. Điều này rất quan trọng nhưng độc giả lướt qua vù vù như cưỡi máy bay, yên chí mình đang đọc truyện về dân Tàu. In hệt hồi Tần Thuỷ Hoàng sai Triệu Đà, người Hoa thứ thiệt, đi “bình định” vùng Lĩnh Nam. Khi nhà Tần yếu, Triệu Đà xưng làm vua Nam Việt, nhưng dân vẫn cứ là giống Việt “man di”.
Tiếng nước Sở ngày nay đã bị Hoa hoá nhưng giọng nói của dân Hồ Bắc, Hồ Nam vẫn còn giữ thổ âm của tiếng Sở ngày xưa. Người Hoa gọi đó là giọng Hồ Quảng (nơi phát xuất… cải lương Hồ Quảng). Hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gọi là tỉnh Việt. Tiếng Quảng Đông còn gọi là Việt ngữ. Kịch nghệ ở Quảng Đông và Hương Cảng gọi là Việt kịch. Thức ăn của Quảng Đông là Việt thái (tsai). Xin để ý: dân tộc Việt Nam là một thành phần trong khối Yueh/Việt. Nhưng không bao giờ là toàn khối chủng Yueh/Việt cả. Vì vậy những thành tích/khám phá có dính líu đến “người Việt” về phương diện nhân chủng/khảo cổ/văn hoá/… đào bới được ở khắp vùng châu Á không luôn luôn có nghĩa thuộc về người Việt Nam ở Việt Nam. Ngay cả nền văn hoá Hoà Bình thuộc thời đồ đá mới tuy tìm thấy ở tỉnh Hoà Bình, nhưng giới khoa học rất thận trọng, họ không coi nền văn hoá này là của người Việt Nam vì thời đó chưa có nước Việt Nam và người Việt Nam. Ai à chủ nhân thực sự của văn hoá Hoà Bình, vẫn là một câu hỏi.
Chiến tranh
Sử Tà không ghi chép đời sống của dân bản địa. Bộ Đông Châu liệt quốc toàn tả lãnh tụ xưng hùng xưng bá. Chỉ biết từ đời Xuân Thu Chiến Quốc 722 TCN đến khi Sở bị Tần diệt năm 223TCN là một thời kỳ hỗn loạn. Dân ở phía Nam sông Dương Tử chịu cảnh binh đao, tàn sát, cướp bóc… không biết bao nhiêu mà kể. Chính biến, đảo chánh, giành ngôi, phế lập, âm mưu, cướp bóc, lãnh chúa… biên giới các “nước” thay đổi. Có nước bị giải thể. Hàng ngàn nước bị chia cắt, sát nhập lúc vào nước này, lúc vào nước kia.
Khi Tần Thuỷ Hoàng, “gồm thâu lục quốc” (Hàn, Nguỵ, Sở, Triệu, Tề, Yên) một cuộc chiến khủng khiếp kéo dài 9 năm biến giải đất mênh mông từ trung nguyên [3] xuống Nam Dương Tử thành một lò sát sinh khổng lồ. Gia đình lãnh chúa bị tận diệt đã đành, dân chúng lớp bị giết hàng khối, lớp chạy tan tác trước sức đồng hoá của chủng Hoa Hạ, của chiến tranh, hạn hán, mất mùa... Miền đất chưa bị vó ngựa chủng Hoa rớ tới, chính là vùng mênh mông phía Nam và Tây nước Sở. Bây giờ là vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, đồng bằng sông Hồng… Lúc đó chưa miền nào có tên như bây giờ. Muốn đi tới miền này phải vượt qua dãy Đại Ngũ Lĩnh hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, hoàn toàn không hợp với người Hoa Hạ chỉ quen chinh chiến và sống vùng sa mạc. Trong Đường về Trùng Khánh, dù đã là năm 1942, tác giả Hàn Tố Âm (Han Suyin) vẫn tả Quế Châu như một vùng rừng núi hoang vu gần như không có ai tới, cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, chỉ có một số người miền núi sinh sống. Thật ra trong quá khứ ngàn năm trước, miền này đã đón nhận hoặc là miền chuyển tiếp rất nhiều đợt chạy loạn.
Bộ mặt của lịch sử Trung Hoa, không phải chỉ ngon lành nào Hồng lâu mộng, nào Tây du ký, tứ đại giai nhân, thi thánh thi bá… Bộ Đông Châu liệt quốc ghi lại 400 năm loạn lạc, cho thấy mạng dân đen (Hoa cũng như Việt) như bèo: Tề Hiếu Công chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân trong mồ của cha mình. Mồ của Tần Mục Công táng theo 177 người. Ngô vương Hạp Lư đánh bẫy hơn một vạn nam nữ để tuẫn táng cho con gái. Không hiếm những người tỉnh táo, lệnh doãn Tôn Thúc Ngao di chúc “Dân nước Sở ta khổ vì việc chiến tranh đã lâu, chúa công nên nghĩ lại mà khiến cho dân được an nghỉ”. Nếu chúa công nghe lời can gián, nước Sở chắc không bị Tần diệt, và bộ mặt địa lý/chính trị của nước Trung Hoa có thể đã khác.
Chiến tranh/nạn đói thời An Lộc Sơn cũng được ghi lại trong 1,500 bài thơ của Đỗ Phủ, nổi tiếng thi hào mà không cần chạy theo chéo áo giai nhân [4]. An Lộc Sơn đánh vào Trường An, Đường Huyền Tông chạy trốn, Dương Quí Phi thắt cổ. Trong 8 năm, dân số nhà Đường, kiểm kê năm 754 từ 52.8 triệu người chỉ còn 16.9 triệu. Lăng mộ của Tần Thuỷ Hoàng cần tới 70 ngàn người xây cất, con số chôn sống không rõ. Nhà văn Hàn Tố Âm, dù gia đình khá giả ở Bắc Kinh (cha người Bỉ, mẹ người Hoa) cũng nhắc lại điều khủng khiếp ám ảnh bất cứ đứa trẻ Trung Hoa nào: chiến tranh và thiên tai “ba năm liền không có một giọt mưa”. Dân chết đủ kiểu. Kể cả chết đói. Vỏ cây cũng không còn. Ai còn đi được, đều cố đứng dậy hay lết bằng đầu gối.
Dân Sở thuộc chủng gì?
Dù Kinh Dương Vương là một người thật, hay chỉ là một biểu tượng trong truyền thuyết Hồng Bàng, cũng đều là một pha trộn hai giòng máu Âu và Lạc. [5] Đây là mật mã cốt lõi của truyền thuyết:
• Hai chi Âu-Lạc sống chung ở vùng Động Đình Hồ,
• Cùng dắt díu nhau di tản, và đoạn cuốil,
• Buồn hơn bất cứ chuyện tình nào: Âu-Lạc phân ly. Thế kỷ 14, tác giả Lĩnh Nam chích quái ghi tất cả biến cố bi tráng trên vào mươi hàng đặt tên “Truyền thuyết Hồng Bàng”. Thời bây giờ, không chắc có cây bút nào có thể viết ngắn/nhiều ý nghĩa đến vậy.
Độc giả có thể kiểm chứng bằng nghiên cứu hay đọc những nghiên cứu ngôn ngữ và lịch sử, thì thấy từng chi tiết của truyền thuyết vẫn còn in dấu trên tình trạng đa sắc tộc và sự hoà huyết, hỗn hợp ngôn ngữ của cư dân có mặt trên mảnh đất Việt Nam. Lịch sử dựng nước của các quốc gia châu Á: Đài Loan, Phi Luật Tân, Nhật, Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam,… đều có những điểm giông giống nhau: hỗn loạn, chia cắt, đánh chiếm, tận diệt, lấn đất, di cư, hoà huyết…
“Nước” Xích Quỷ biến đi đâu?
Không biến đi đâu hết. Ở đâu còn nguyên đó. Đất cũ người cũ. Thêm người mới khoác áo văn hoá mới. Nhìn trên bản đồ, bờ cõi nước Xích Quỷ hầu như phân nửa bờ phía Nam sông Dương Tử: Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) kinh tuyến 105 Đông, phía Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118 Đông. Tổng cộng diện tích của Xích Quỷ khoảng 2,900,000 cây số vuông. Diện tích Việt Nam bây giờ là 331,688 cây số vuông.
Tại sao thình lình không gian của Lạc Long Quân tức Hùng Vương thứ nhất rộng lớn đến thế, đời Hùng Vương thứ 18 khi bị Thục Phán diệt, chỉ còn lại đồng bằng sông Hồng?
Di cư
Như trên đã nói, một cuộc di tản rất lớn xảy ra, kéo dài hàng mấy trăm năm, trước/sau khi nước Sở bị diệt vong. Đám chi Âu, chi Lạc chạy khỏi địa bàn nước Sở. Khi đi, mang theo tất cả những truyền thuyết tổ tiên đến địa bàn mới. Ngay như tên người Việt bây giờ vẫn tự gọi: người Kinh - để phân biệt với người Thượng - có thể tên châu Kinh đất cũ còn trong ký ức. Có lẽ nên hiểu truyền thuyết Hồng Bàng là cổ sử của chủng Yueh/Việt, hơn là cổ sử riêng của Việt Nam. Biên cương rộng lớn của Xích Quỷ hé mở đôi điều, nếu hiểu theo quan sát và quan niệm của tác giả truyền thuyết Hồng Bàng về thời lưu cư ở Động Đình Hồ:
1. Chủng Việt, khác với chủng Hoa Hạ;
2. Hễ đồng chủng, là cùng một “nước”;
3. Có rất nhiều bộ tộc Việt sống xen kẽ trên cùng địa bàn Xích Quỷ;
4. Vì xen kẽ, nên mượn qua mượn lại truyền thuyết/cổ tích của nhau;
5. Người/tiếng Việt đi tới đâu, biên giới Xích Quỷ đi đến đó;
6. Người Trung Hoa bây giờ cũng là một pha trộn = Hoa Hạ + Việt, cả DNA và tiếng nói;
7. Lãnh tụ đầu tiên Lạc Long Quân hoàn toàn thuộc chủng Việt, mang hai giòng máu Âu và Lạc, không lai một chút Hoa Hạ nào hết.
Có “nước” Xích Quỷ không?
Không. Bởi vì:
• Xích Quỷ: chỉ là địa bàn lớn chứa chủng Việt, gồm hàng trăm (hay ngàn) bộ lạc/thị tộc, tình trạng “văn minh” tuỳ vùng.
• Nước Sở: nhỏ hơn, chứa các nhóm Âu-Lạc.
• Đồng bằng sông Hồng: nhỏ hơn nữa, là một trong những nơi dừng chân cuối cùng của của đám Âu/Lạc di tản. Nơi đó cũng đã có người ở từ trước.
Nước Thái Lan, nước Lào, chi Âu, tình cảnh rất giống Việt Nam. Thái chỉ mới thành lập quốc gia từ thế kỷ 13. Lào lập nước trễ hơn Thái chừng nửa thế kỷ. Cả hai chạy ngược chạy xuôi tìm đất và choảng nhau với dân bản địa. Có những bộ tộc rất oai hùng, nhưng lại không thành lập nổi một quốc gia, ví dụ sắc tộc Karen, sắc tộc H’Mong, và hàng ngàn bộ tộc hiện diện trên đất Trung Hoa, bị Hán hoá hoặc có danh nghĩa “khu tự trị”, nhưng mức độ độc lập luôn là câu hỏi.
“Con Rồng cháu Tiên”
Xin thú thật, là một học trò yêu môn lịch sử, nghe “con rồng cháu tiên, dân Việt mình… siêu hơn dân tộc khác” rất êm tai. Nhưng hôm nay ôn lại những trang sử, bàng hoàng nhận ra một bài học khác: nước Việt sinh ra trong ly loạn, những đoàn người đầu tiên đã cố gắng phi thường mới hội được nước Việt như ngày nay. Cảm xúc trước sự huyền bí của lịch sử là một cảm xúc đẹp. Tuy vậy, kiểu hãnh diện mơ màng “con Rồng cháu Tiên” nhưng không biết rằng nước Việt được tạo dựng trong điêu linh, có thể làm biến dạng suy tư của người Việt: làm đứt đoạn, xa rời hẳn với quá khứ. Nếu có đôi điều đặc biệt đáng hãnh diện, đó là trong số hậu duệ của chủng Việt, không có quốc gia nào nắm níu tên “Việt” ngoại trừ dân tộc Việt Nam; và sau gần 3,000 năm thăng trầm, sức sống bền bỉ, chấp nhận hoà huyết, sáng tạo tiếng nói, dũng mãnh chống ngoại xâm, mềm dẻo giữ độc lập… mỗi ngày là mỗi cố gắng gượng dậy từ những tang thương dù không hề biết cuối con đường cay đắng hay vinh quang: đó mới là kho báu đích thực và bài học vô cùng quí giá tổ tiên để lại.
Trần Thị Vĩnh Tường
Mùa Phật Đản, California
[1]Câu 507, Kiều trả lời Kim Trọng khi chàng Kim eo sèo đòi “sex”:
"Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!"

Sông Bộc: nơi trai gái chủng Việt chiều chiều rủ nhau xuống bãi dâu tình tự nên có thành ngữ “Trên Bộc trong dâu”, Nguyễn Du tiên sinh viết theo quan niệm nhà Nho hồi đó, tức cấm đoán nhiều thứ lủng củng.
[2]Nhiều thông tin khác nhau về bài “Việt nhân ca”:
- Dân ca của người Choang
- Bài hát của dân Việt thời Ngô Việt giao tranh. Vương tử Sở là Ngạc Quân Tử Tích thích bài hát nên nhờ chuyển thành Sở từ. Cũng là bài hát trong phim Dạ yến/The Banquet với Chương Tử Di.
[3]Miền đất giữa Hoàng Hà và Dương Tử.
[4]Đỗ Phủ: tất cả thơ của ông tả cảnh chiến tranh thời An Lộc sơn. Ví dụ: Bài “Vô gia biệt” (Cuộc ly biệt của kẻ không nhà), ông ước "Có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được". Ông bôn ba khắp nơi dâng kế cứu dân cứu nước. Không ngờ về đến nhà mới hay con trai đã chết đói.
[5]Nguyên Nguyên, “ Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương”.



Các Số Báo Trước:


Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng ViệtThu Hằng
Nhà thờ Đức Bà, đặc trưng kiến trúc Pháp giữa lòng Sàigònx…
Tự điển tiếng Việt đổi đờiĐào Văn Bình
Phong cách "kiến trúc Đông Dương" tại Việt Nam đầu thế kỷ XX x…
Ông Già Bến Ngự Trần Thảo
Giới trẻ tìm về lịch sử qua những ca khúc nhạc vàngCát Linh
Diễn tiến tư tưởng Phan Châu Trinh Trần Gia Phụng
I và Y Nguyễn Đắc Dõng
Diện tích nước Việt cổ lớn gấp 10 lần ngày nay Trần Hưng
Lừng danh sử Việt: Đội quân duy nhất thế giới từ vua đến tướng đều là phụ nữ Trần Hưng
Sinh nhật thứ 426 năm cha đẻ chữ Quốc ngữ: Xứ sở này nợ ông ấy lời tri ânLS Đặng Đình Mạnh
Bản thân chữ Quốc ngữ “có tội” với Dân tộc Việt Nam không? Nguyễn Văn Nghệ
Những phụ nữ với dòng máu Hai Bà Trưng và các thái thú thời đại ngày hôm nay Đồ Hiếm
Trò chuyện với nhà nghiên cứu sử học Trần Gia Phụng về chiến thắng năm Kỷ Dậu 1789 Hồng Phúc
Nên hiểu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của nhà cách mạng Phan Châu Trinh như thế nào?Phan Thành Khương
Vài suy nghĩ nhân lễ giỗ Ngô Quyền Huỳnh Khánh Hòa
Thống lĩnh 100 nghìn quân bắc phạt, Lý Thường Kiệt đã khiến cả Trung Quốc chấn động như thế nào?Bảo Nguyên
Xuân Đinh Dậu nhớ xuân Kỷ Dậu: Trận Đống Đa dưới ngòi bút của Nguyễn Văn TốChu Nguyễn
Những truyện cổ tích thời Hùng VươngNguyễn Lộc Yên
Mơ thành người Quang TrungLữ Thị Tường Uyên
Đánh tan quân phương Bắc & Sinh nhật vua Trần Nhân TôngCô Tư SàiGòn
Chính Khí ViệtTrần Trung Đạo
Chữ, Nghĩa và sự trong sáng của tiếng Việt Giang Phúc Đông Sơn
Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưax…
Lục Vân Tiên có tranh minh họa, 120 năm bị bỏ quên tại Phápx…
Phạm Mê Linh với CD Học Tiếng Việt qua bài hátThanh Trúc
Nguyễn Hữu Liêm đưa ra Một Triết Học Về Lịch Sử Việt Lê Giang Trần
Việt Nam: một dân tộc đang đứng trước họa diệt vong Nguyễn Lương Tuyền
Một số anh thư thời đại LS Đào Tăng Dực
Tuổi Trẻ Việt Nam & Tinh thần Quang Trung Ts. Mai Thanh Truyết
Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm?Mặc Lâm
Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng HòaNguyễn Quang Duy
Trọng Thủy thời nayĐỗ Văn Phúc
Dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt chủng khi toàn dân bị ác cộng bắt làm nô lệ!LM Nguyễn Văn Lý
Những điều Mẹ không dạy cho con…LS Đặng Đình Mạnh
“Con thành người Việt Nam”Nguyệt Quỳnh
Sống lại khí thế Bạch Đằng, Đống ĐaĐỗ Văn Phúc
Ngày Giỗ Hưng Đạo Đại Vương, Bình Định Vương Lê Lợi và Trung Liệt Hầu Lê LaiLS Đào Tăng Dực
Tiến trình Bắc thuộc lần thứ 5 của Trung Cộng Mai Thanh Truyết
Chúc thư chính trị của một danh tướng Trần Gia Phụng
Nhân 145 năm ngày mất danh nhân Nguyễn Trường Tộ (1871-2016) - Nguyễn Trường Tộ hiến kế dùng Tây chặn Tàu để bảo vệ biển Đông Việt Nam Nguyễn Thanh Giang
Father's day nhớ về Cha tôiJo. Vĩnh SA
Mừng ngày Hiền phụ với chương trình TV The VoiceAutumn Huỳnh
Nguồn gốc điạ danh SàigònBình-nguyên Lộc
Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt NamNguyễn Văn Tuấn
Nền tảng văn hoá Việt NamPhạm Hy Sơn
Nền tảng văn hoá Việt NamPhạm Hy Sơn
Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ Việt Nam Giáo sư Phạm Cao Dương
Trang phục bình dân của người Việt vào cuối thế kỷ XIXThu Hằng
Suy nghĩ bên đèn đỏ ở Nara Trần Trung Đạo
Nghề thủ công Việt Nam qua nhãn quan của toàn quyền Pháp De Lanessanx…
Danh tướng Lý Thường Kiệt và Nam Quốc Sơn HàNguyễn Châu
"Sự im lặng của cha tôi": Một nhà báo Pháp gốc Việt tìm về nguồn cộix…
Tạp ghi văn nghệ: Ngày Từ Phụ, đọc thư gửi cho con của một tổng thốngNguyễn Mạnh Trinh
Từ Hà Nội đến Sàigòn: Từ di cư 1954 đến di tản 1975 trốn chạy cộng sảnLữ Tuấn
Đất nước tôiTrần Thành Mỹ
Một nét đẹp trong tiếng Việt, chữ NướcTrần Thành Mỹ
Tiếng Việt ba miền - Tiếng nào là ‘chuẩn’?Ts. Lê Thiện Phúc
Lá gan người NamTrương Đình Phượng
Từ Hà Nội đến Sàigòn: Từ di cư 1954 đến di tản 1975 trốn chạy cộng sảnLữ Tuấn
Một vài nét về văn hoá Việt NamTs. Lê Thiện Phúc
Nền tảng của thể chế chính trị Việt Nam Cộng HoàNguyễn Thanh Bạch
Hiệp định Genève 1954, nước Việt Nam chia haiNguyên Anh
Tục lệ cổ truyền Việt Nam, phải có lá trầu, trái cau và sáp vôi trong đám cướiNguyễn Huy Hùng
Việt Nam chống lại Hốt Tất Liệt Lauren Hilgers
Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, Tưởng nhớ Sư Bà Thiều Hoa cầm quân chống giặc Hánx…
Lễ Hai Bà Trưng và truyền thống anh hùng chống ngoại xâm của phụ nữ Việt NamPhạm hy Sơn
Giai thoại Trạng TrìnhNguyễn Quý Đại
Đọc lại một số thi phẩm của Phan Châu Trinh (1872-1926)Phan Thành Khương
Ngô Vương: Ngô Quyền (897- 944)Nguyễn Lộc Yên
Vua Lý Nhân Tông Việt Thái
Tết Nguyên ĐánNguyễn Lộc Yên
Khỉ gió… con bú dù!Nguyễn Dư
TrầuSong Thao
Tai sao Tết Việt Nam phải có bánh chưng bánh dày?Nguyễn Huy Hùng
Bản thông điệp cho ngày maiGiao Chỉ, SJ
Bản thông điệp cho ngày maiGiao Chỉ, SJ
Theo Phan Bội Châu: Chống tham nhũng - Chống áp bức Ngô Nhân Dụng
Cô giáo của tôi và lòng yêu nước Ts. Nguyễn Đình Thắng
Không thể xóa tên Sàigòn!Nguyễn Ngọc Huy
Lịch Sử và Dân Tộc Bảo Giang
Nguyễn Văn Vĩnh và tờ Đăng-cổ tùng-báoThu Hằng
Đòn ngoại giao của người Việt xưa và nayNguyễn Tường Thụy
Tiểu sử và sự nghiệp của cố Tổng Thống Ngô Đình DiệmNguyễn Ngọc Cường
23-10 là ngày trưng cầu dân ýTrần Gia Phụng
Nhớ về vị Tổng Thống kính yêu của Việt Nam Yên Tánh
Như Phan Chu Trinh, mới xứng với câu “tìm đường cứu nước”x…
Ngô Thì Nhậm (1746 -1803)Nguyễn Lộc Yên
Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi”- Bài 1 Nguyễn Ngọc Lanh
Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi”- Bài 2 Nguyễn Ngọc Lanh
Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi” - Bài 3 Nguyễn Ngọc Lanh
Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi” - Bài 4 Nguyễn Ngọc Lanh
Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi” - Bài 5 Nguyễn Ngọc Lanh
Ngày giỗ Đức Hưng Đạo Đại Vương, các Đức Lê Lai và Lê Lợix…
Ngày giỗ Đức Hưng Đạo Đại Vương, các Đức Lê Lai và Lê Lợix…
Giới trẻ Lasan với cội nguồn và di sản văn hóa ViệtThanh Trúc
Giới trẻ Lasan với cội nguồn và di sản văn hóa ViệtThanh Trúc
Tạp ghi văn nghệ: Tracy Võ và hồi ký Small BambooNguyễn Mạnh Trinh
Vua Cảnh Thịnh: Nguyễn Quang Toản (1783 -1802)Nguyễn Lộc Yên
Tạp ghi văn nghệ: Tracy Võ và hồi ký Small BambooNguyễn Mạnh Trinh
Vua Cảnh Thịnh: Nguyễn Quang Toản (1783 -1802)Nguyễn Lộc Yên
Vua Quang Trung: Nguyễn Huệ (1753 - 1792)Nguyễn Lộc Yên
Vu Lan - Ngày Lễ Cha Mẹ của Người Việt GS Trần Thủy Tiên, M.S.
Trang Sử Việt: Thái Đức Hoàng Đế: Nguyễn Nhạc (? - 1793)Nguyễn Lộc Yên
"We Are Here" - Tự truyện của thế hệ tị nạn thứ haiThanh Trúc
Lý Thường Kiệt - Nhà quân sự, chính trị kiệt xuấtDuy Long
Hành Trang và Lý Tưởng Teresa Trần Kiều Ngọc
Tản mạn về huyền sử Hạ Miên Trường
"Nông-cổ mín-đàm", tờ báo kinh tế đầu tiên của Việt NamThu Hằng, RFI
Những nhà báo tiên phong cho báo chí tiếng ViệtĐỗ Ngọc Yên
Nam Kỳ, cái nôi của nền báo chí Việt Nam (giai đoạn cuối thế kỷ XIX)Thu Hằng, RFI
Những thế hệ người Việt đầu tiên định cư trên đất Thái lan (phần 1)Anh Vũ
Những thế hệ người Việt đầu tiên định cư trên đất Thái lan (phần 2)Anh Vũ
Phim "Gạo đắng", số phận nông dân Việt Nam ở vùng CamargueThu Hằng
85 năm Ngày Tang Yên Bái: Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”Trần Trung Đạo
Chuyện một người mang tên Nguyễn Thị Di Tản Hoàng Thị Tố Lang
Chuyện một người mang tên Nguyễn Thị Di Tản Hoàng Thị Tố Lang
Hãy làm người Quang Trung, hỡi tuổi trẻ Việt Nam x…
Mother’s day: Những lời Hát Ru của MẹCát Linh
Quốc Hận 30/4, tâm bút tuổi trẻ Hải Ngoại Lanney Tran
Mother's Day - Viết về MẹJo. Vĩnh SA
Trương Vĩnh Ký: Chiếc cầu nối Đông-TâyPétrus Ký
Nhân ngày báo chí VN, tản mạn về báo chí cộng sảnHuỳnh Ngọc Chênh
Mẹ tôi và lá cờ vàng ba sọc đỏNguyễn Kiến
Kỷ niệm 400 năm chữ quốc ngữ ra đời (1615-2015)Nữ tu Bùi Thị Minh Thùy
Quê hương đất tổTrần Thành Mỹ
Anh hùng dân tộcĐối Diện Quân Thù
Cờ Vàng trên phố Bolsa thách đố những bàn tay đenGiáo Già
Đã 13 lân dân Việt đại thắng giặc phương Bắc xâm lăngNguyễn Thanh Đức
Mùa xuân trong truyền thuyết Hùng Vương Vũ Anh Phong
Vua Quang Trung và chiến thắng Đống ĐaViệt Thái
Rợp bóng cờNguyễn Nhân Trí
Vua Hàm Nghi: Cuộc đời nghệ sĩRFI
Nước Việt mến yêuNguyễn Nhơn
Chiến thuật hạ thành Ngọc Hồi của quân Sơn TâyNguyễn Văn Nghệ
Đầu Xuân tâm tình chuyên đạo hiếuNguyễn Văn Nghệ
Trận Hoàng Sa, biểu tượng hội tụ lòng yêu nước Trần Gia Phụng
Học đánh cần chữ MJo. Vĩnh
Trận Hoàng Sa, biểu tượng hội tụ lòng yêu nước Trần Gia Phụng
Học đánh cần chữ MJo. Vĩnh
Lá cờ, màu cờ và hồn nước Bảo Giang
Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở AlgerRFI, 31/12/2014
Những câu nói bất hủSơn Nghị
Hiểm họa Bắc thuộc xưa và nay - Bài học nào cho Việt NamMai Hương@S
Tại sao chúng ta cần phải trở về văn hoá dân tộcTriết gia Kim-Định
Hịch Bình Ngô của thời đại chúng taTrưng Vương Saigon
Lý Thường Kiệt phạt TốngNguồn: http://vi.wikipedia.org
Tư duy về Dân Trí Phan Châu Thành
Xem xét nước Tàu tại sao gọi rằng “Trung Quốc”Nguyễn Lộc Yên
Cao đẳng quốc dânPhan Bội Châu
Thác Bản Giốc - Những bằng chứng lịch sử Mai Thái Lĩnh
Lẩy bẩy như Cao Biền dậy nonNguyễn Đổng Chi
700 Năm cuộc tình Huyền Trân Công ChúaTrúc Giang MN
Đính chính sai lầm về "Nam Hải"Phạm Cao Dương
Mái tóc người vợ Truyện kể Khải Nguyên
Ải Chi LăngTrần Công Nhung
Chuyện thần tiên nước Văn LangTừ Vũ
Cây cô độcNguyễn Thị Khánh Minh
Phỏng vấn ông Bố Việt ở Úc Châu Nhân ngày Hiền Phụ - Father’s DayJovi Nguyễn
Chỗ đứng của tiếng Việt trong thế giớiNguyễn Hy Vọng
Chuyện cổ tích “Trầu Cau”Ngành Mai
Ngược xuôi “Những nẻo đường tiếng Việt”Lê Hữu
Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng ra mắt hai tác phẩm "Từ điển nguồn gốc tiếng Việt" và Những nẻo đường tiếng Việt"Hoàng Thụy Văn
Tâm sự Nguyễn Trãi khi đất nước bị giặc Minh chiếm đóng (trước khi gặp Lê Lợi)Phạm Thảo Nguyên
Số phận Lê Chiêu Thống và đoàn tòng vong trên đất Trung QuốcĐào Tiến Thi
Tinh thần và trách nhiệm khi Tổ Quốc lâm nguyNguyễn Lộc Yên
Rước voi về dày mả tổNguyễn Gia Kiểng
Hai chữ Việt Nam Phạm Minh-Tâm
Những tấm gương bất tử Trần Quốc Việt
Khóc với dòng sông hay “Món nợ tuổi hai mươi”Trần Trung Đạo
Kỷ niệm 84 năm ngày mất của nhà ái quốc Nguyễn Thái HọcTrần Trung Đạo
Nữ anh hùng Cô Giang đã "Tủi thân không được chết vinh dưới cờ" Trần Quốc Việt
Suy tư nhân ngày mất của anh hùng Nguyễn Thái Học - Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng Nguyễn Chí Đức
"Tuổi trẻ Việt Nam với cội nguồn dân tộc" Thanh Sơn
Người Hoa ở Việt NamNguyễn Văn Khậy
Bãi cọc Bạch Đằng GiangViên Linh
Tàu Cộng xâm lược xin chớ hung hăngBichthuy Ly
Từ ải Nam Quan đến mũi Cà MauTiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm
Ải Nam QuanChu Tất Tiến
Bắc thuộc lần thứ nămTs Mai Thanh Truyết
Mối lo phương BắcVương Văn Bắc
Xin hỏi các anh là ai? Sao lại bắn, giết chúng tôi khi chống Tàu xâm lăng VNMường Giang
Muôn đời dân tộc Việt vẫn nhớ ơn Quốc tổ Hùng VươngMường Giang
Văn Tế Quốc Tổ Và Anh Linh Tử SĩNguyễn Lộc Yên
Truyền thống dân tộc Việt và ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng VươngNC_Lê Hoàng Thanh
Giỗ Tổ Hùng Vương 10-3 Âm lịchPhạm Trần Quốc Việt
Sát thát và sát đất Đi Tới
Tuổi trẻ Việt Nam ý thức & con tim Việt tộcNgô Quốc Sĩ
Lịch sử ngàn năm Bắc Thuộc - Hai Bà Trưng khởi nghĩa dựng nền độc lập Phạm Hy Sơn
Tư tưởng Phan Châu Trinh và hiện tình Việt NamLS. Đỗ Thái Nhiên
Đọc lại “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” của Lê Chí QuangLê Nguyên
Sứ mạng Thanh Niên và các tầng lớp Trí Thức trước Lịch Sử & Dân TộcTrúc Giang/Cao Gia
Nhân ngày 17/2: nhắc lại những bí mật trong cuộc chiến Việt - Trung năm 1979Huỳnh Tâm
19-1 Ngày Hoàng Sa: Tiếp nối những trang sử Việt chống Tàu đỏ xâm lượcMường Giang
Chiến Thắng Đống Đa, 1789Lê Đình Thọ
Tiếng Việt mình và thế hệ cháu tôiĐỗ Xuân Tê
Tiếng Việt mình và thế hệ cháu tôiĐỗ Xuân Tê
Chú tiểu chùa Cổ PhápNgô Viết Trọng
Người Việt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳx…
Vì sao đội khăn tang trong tang lễ?JoVinh SA Sưu tầm
Giữ tiếng Việt, vững nước ViệtTrangđài Glassey-TrầnNguyễn
Trần Thủ Độ: Đời luận anh hùng x…
Đã 13 lần dân Việt đại thắng giặc phương Bắc xân lăngNguyễn Thanh Đức
Sứ mạng thanh niên trước lịch sửTrúc Giang/Cao Gia
Nối giòngTrần Thành Mỹ
Giặc phương Bắc kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt NamPhạm Hoàng Tùng